Hiểu đúng

Đức Phật có phải là thần linh không

Nhiều người lạy Phật như lạy một vị thần: xin phù hộ, sợ bị phạt. Kinh Pāli kể lại một Bà-la-môn từng hỏi thẳng Đức Phật: Ngài có phải là thần không? Câu trả lời giúp ta hiểu mình đang đảnh lễ ai, và vì sao.

Tóm lại: Đức Phật không phải là thần linh, không phải đấng tạo hóa, cũng không phải vị trời ban phước giáng họa. Khi được hỏi Ngài có phải là chư thiên hay không, Ngài đáp không, và nói: “Hãy nhớ Ta là một vị Phật,” nghĩa là bậc đã giác ngộ (Tăng Chi Bộ 4.36). Ngài sinh ra làm người, tự mình tìm và thấy con đường, rồi chỉ lại cho chư thiên và loài người. Phật tử đảnh lễ Ngài như đảnh lễ bậc Thầy, không như cầu xin một vị thần.

Bà-la-môn Doṇa và những dấu chân

Tăng Chi Bộ 4.36 kể một chuyện rất sinh động. Bà-la-môn Doṇa đi trên con đường giữa Ukkaṭṭhā và Setabya, thấy những dấu chân của Đức Phật in hình bánh xe nghìn căm, liền nghĩ: “Thật kỳ diệu, đây hẳn không phải dấu chân của một con người.” Ông lần theo dấu chân, gặp Đức Phật đang ngồi kiết già dưới gốc cây, dáng vẻ an tịnh, các căn lắng dịu (AN 4.36, đoạn 1.3–1.8). Ông hỏi lần lượt: Ngài có phải là chư thiên không? Có phải là càn-thát-bà, dạ-xoa không? Có phải là người không? Lần nào Đức Phật cũng đáp: không phải (đoạn 2.1–2.8).

Doṇa bối rối: vậy Ngài là ai? Đức Phật giải thích: những lậu hoặc mà nếu chưa đoạn thì Ta có thể sinh làm chư thiên, càn-thát-bà, dạ-xoa hay làm người, những lậu hoặc ấy Ta đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc như cây thốt nốt bị chặt ngọn. Rồi Ngài nói:

Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn sanh ta trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì.

Tăng Chi Bộ 4.36, đoạn 4.3–4.5

Chữ Buddha nghĩa là “người đã tỉnh thức, đã giác ngộ”. Đó không phải một chức vị thần thánh, mà là một sự chứng ngộ.

Một con người đi tìm sự thật

Trong Kinh Thánh Cầu, Đức Phật tự kể: “Chính Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng Chánh giác, còn là một vị Bồ-tát, tự mình phải chịu sinh lại đi tìm cầu những gì cũng phải chịu sinh” (Trung Bộ 26, đoạn 13.1). Ngài đã già, đã bệnh như mọi người. Năm tám mươi tuổi, Ngài nói với Tôn giả A-nan (Ānanda): “Nay Ta đã già, đã lớn tuổi, đã đi đến chặng cuối của đời người; Ta đã tám mươi tuổi. Như chiếc xe cũ phải nhờ dây buộc mới chạy được” (Trường Bộ 16, đoạn 2.25.9–2.25.12).

Cũng trong Kinh Thánh Cầu, sau khi Đức Phật giác ngộ, chính Phạm thiên Sahampati, vị trời mà nhiều người thời ấy tôn thờ như đấng tối cao, hiện xuống, chắp tay thỉnh cầu: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn thuyết pháp!” (Trung Bộ 26, đoạn 20.5). Vì thế một trong các danh hiệu của Đức Phật là “Thầy của chư thiên và loài người” (satthā devamanussānaṁ, Tăng Chi Bộ 6.10, đoạn 2.3). Ngài đứng trên chư thiên không phải vì quyền năng ban phát, mà vì trí tuệ và sự giải thoát. Bài 31 cõi và chư thiên nói thêm về vị trí của chư thiên trong kinh.

Không ban phước, không trừng phạt

Người đến với một vị thần thường mong được ban cho và sợ bị phạt. Kinh Pāli đặt mối quan hệ với Đức Phật trên một nền khác. Pháp Cú dạy: “Điều ác do chính mình làm, cũng do chính mình mà nhiễm nhơ; điều ác do mình không làm, nhờ chính mình mà được trong sạch. Sạch hay nhơ là chuyện riêng mỗi người, không ai làm sạch thay người khác được” (Pháp Cú, kệ 165). Và: “Chính các con phải nhiệt tâm gắng sức, các bậc Như Lai là người nói rõ lối đi” (Pháp Cú, kệ 276). Trước khi nhập diệt, Ngài dặn: hãy lấy chính mình làm hòn đảo, lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa (Trường Bộ 16, đoạn 2.26.1).

Pháp Cú cũng nói: vì sợ hãi, nhiều người tìm nương tựa nơi núi rừng, cây thiêng, đền miếu, nhưng đó không phải nơi nương tựa an ổn; ai nương tựa Phật, Pháp, Tăng và thấy rõ bốn Thánh đế bằng chánh trí tuệ, đó mới là nơi nương tựa tối thượng (Pháp Cú, kệ 188–192). Quy y Phật là nương tựa vào một người đã đi trọn con đường và chỉ lại cho ta, không phải nhờ một đấng quyền năng làm thay ta.

Vậy lạy Phật để làm gì

Thử hình dung một sinh viên đặt trên bàn học tấm ảnh người thầy đã dạy mình nên người. Anh không xin tấm ảnh cho mình điểm cao, nhưng mỗi lần nhìn lại, anh nhớ thầy đã sống thế nào, và tự nhắc mình cố gắng. Lạy Phật cũng giống như vậy, sâu hơn. Tăng Chi Bộ 6.10 dạy: khi tưởng niệm Như Lai, tâm không bị tham, sân, si chi phối, trở nên ngay thẳng, sinh hoan hỉ, thân an tịnh, tâm dễ định (AN 6.10, đoạn 2.4–2.7). Bài Đức Phật là ai kể lại cuộc đời Ngài.

Một gợi ý nhỏ

Lần tới khi đứng trước tượng Phật, trước khi xin điều gì, bạn thử đọc thầm một danh hiệu: “Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác.” Rồi tự hỏi: hôm nay mình có thể đi theo con đường Ngài chỉ thêm một bước nào?

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.36, Kinh Doṇa, AN 4.36 trên SuttaCentral.
  2. Trung Bộ 26, Kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesanā Sutta), MN 26 trên SuttaCentral.
  3. Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), DN 16 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 6.10, Kinh Mahānāma, AN 6.10 trên SuttaCentral.
  5. Pháp Cú, kệ 165, Dhp 157–166 trên SuttaCentral; kệ 188–192, Dhp 179–196 trên SuttaCentral; kệ 276, Dhp 273–289 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  7. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh