Hiểu đúng

Phật tử có được giàu không

Có người nghĩ đã theo Phật thì nên nghèo, giàu là tham, là xa đạo. Nhưng nhiều bài kinh về tiền bạc lại được Đức Phật nói cho một thương gia rất giàu. Điều kinh quan tâm không phải là giàu hay nghèo, mà là của từ đâu đến và đi về đâu.

Tóm lại: Đạo Phật không chê của cải. Kinh khen của cải “do siêng năng cố gắng mà có, do sức đôi tay gom góp, do mồ hôi đổ ra, kiếm được một cách chân chánh” (AN 4.62), và kể năm lý do chính đáng để làm ra của: lo cho bản thân và gia đình, cho bạn bè, phòng hoạn nạn, làm các việc cúng, cúng dường người tu hành (AN 5.41). Điều kinh chê là giàu mà keo kiệt, không dùng cho ai (SN 3.19), và quên rằng khi chết chỉ việc làm của mình đi theo mình (SN 3.20).

Hiểu lầm “theo Phật thì phải nghèo”

Một trong những cận sự nam được nhắc đến nhiều nhất trong kinh, ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), là một thương gia rất giàu, và nhiều bài kinh dạy về tiền bạc được Đức Phật nói cho chính ông. Tăng Chi Bộ 4.62 kể niềm vui đầu tiên của người tại gia là niềm vui có của cải:

Ở đây, này Gia chủ, tài sản của người thiện nam tử, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp. Vị ấy suy nghĩ: “Ta có tài sản, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay… thâu hoạch đúng pháp.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ.

Tăng Chi Bộ 4.62, đoạn 3.2–3.3

Niềm vui thứ hai là dùng của cải ấy “để chi dùng và để làm phước” (đoạn 4.2). Giàu không phải là vấn đề. Vấn đề là của cải từ đâu đến, và được dùng vào đâu.

Năm lý do để làm ra của

Tăng Chi Bộ 5.41 nói rõ hơn: có năm lý do để làm ra của cải. Với của cải chân chánh, vị Thánh đệ tử làm cho bản thân, cha mẹ, vợ con, người giúp việc được an vui (đoạn 1.5–1.8); làm cho bạn bè, đồng sự được an vui (đoạn 2.1); phòng ngừa hoạn nạn do lửa, nước, vua quan, trộm cướp, người thừa kế không ra gì (đoạn 3.1–3.3); làm năm việc cúng: cho bà con, cho khách, cho người đã khuất, cho vua, cho chư thiên (đoạn 4.1–4.2); và cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn sống không kiêu mạn, không phóng dật, nhẫn nại, hiền hòa (đoạn 5.1).

Điều đẹp nhất ở cuối kinh: nếu của cải dùng cho năm việc ấy mà hao đi, người ấy nghĩ mình đã dùng đúng, nên không hối tiếc; nếu của cải tăng lên, người ấy cũng không hối tiếc. Cả hai trường hợp đều không hối tiếc (đoạn 6.1–6.6). Đó là một thước đo hay cho người làm ăn: không phải giàu bao nhiêu, mà là có phải hối tiếc về cách mình kiếm và tiêu hay không.

Giàu mà không dùng

Tương Ưng Bộ 3.19 kể vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) đến gặp Đức Phật giữa trưa, sau khi lo xong việc đưa gia tài của một nhà triệu phú chết không con vào kho vua: tám triệu đồng vàng, chưa kể bạc. Vậy mà ông ấy ăn cháo tấm với nước chua, mặc áo vải gai ba mảnh, đi chiếc xe cũ nát, che lá làm dù (SN 3.19, đoạn 2.1–2.9). Đức Phật nói: người không chân chánh có nhiều của mà không làm cho mình, cha mẹ, vợ con, người làm, bạn bè được an vui, không cúng dường người tu hành, thì của ấy bị vua quan lấy, trộm cướp lấy, lửa cháy, nước cuốn, người thừa kế không ra gì lấy; của ấy hao mất mà không được dùng (đoạn 3.2–3.4). Ngài ví như hồ nước trong mát ở nơi không người, chẳng ai múc, chẳng ai uống, rồi cũng cạn đi (đoạn 4.1–4.3).

Bài kế tiếp kể thêm, theo lời Đức Phật: kiếp xưa người ấy từng cúng dường một vị Phật Độc Giác, rồi lại hối tiếc, nghĩ rằng thà để bữa ăn ấy cho tôi tớ, người làm công còn hơn; vì thế tuy được giàu mà tâm không hướng đến việc hưởng dùng của cải (SN 3.20, đoạn 3.2–4.4). Bài kệ kết thúc:

Lúa, tài sản, vàng bạc,
Hay mọi vật sở hữu,
Nô tỳ và lao công,
Các mạng sống tùy thuộc,
Vị ấy phải ra đi,
Không đem theo được ai,
Tất cả phải bỏ lại,
Khi ra đi một mình.

Chỉ có các hành động,
Về thân, miệng và ý.
Mới thật thuộc vị ấy,
Mang theo khi ra đi,
Nghiệp ấy theo vị ấy,
Như bóng không rời hình.

Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người.

Tương Ưng Bộ 3.20, đoạn 6.1–8.4

Giàu mà vẫn nhẹ lòng

Của cải thuộc về tám pháp thế gian: được lợi rồi mất lợi. Người đã nghe Pháp, khi được lợi, biết rằng “lợi này đã đến với ta, nhưng nó là vô thường, là khổ, là pháp phải đổi thay” (AN 8.6, đoạn 5.1–5.4), nên được lợi không chiếm lấy tâm, mất lợi cũng không. Pháp Cú nói “biết đủ là của cải quý nhất” (kệ 204). Và Tăng Chi Bộ 4.62 nhắc: so với niềm vui không lỗi lầm, niềm vui có của, dùng của, không mắc nợ không bằng một phần mười sáu (kệ 7–8).

Thử hình dung anh Tuấn, chủ một xưởng mộc nhỏ, làm ăn khấm khá. Anh trả lương đúng hạn, cho thợ nghỉ khi ốm, mỗi tháng đưa mẹ đi khám, góp tiền sửa cây cầu trong xóm. Một năm làm ăn khó khăn, xưởng thua lỗ, anh buồn nhưng không hối tiếc những gì đã chi. Đó là tinh thần “cả hai trường hợp đều không hối tiếc” mà Tăng Chi Bộ 5.41 nói đến. Kinh Thi-ca-la-việt còn dạy cách chia của cải làm bốn phần: một phần chi dùng, hai phần đầu tư vào việc làm ăn, một phần cất giữ phòng khi hoạn nạn (DN 31, kệ 26.17–26.22).

Một gợi ý nhỏ

Cuối tháng này, khi xem lại sổ chi tiêu, bạn thử đánh dấu những khoản thuộc năm lý do của Tăng Chi Bộ 5.41. Nếu chưa có khoản nào cho bạn bè hay cho người tu hành, hãy thêm một khoản nhỏ vào tháng sau. Bài Tiết kiệm và bố thí có thêm gợi ý.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.62, Kinh Bốn Niềm Vui Của Người Tại Gia, AN 4.62 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 5.41, Kinh Lý Do Làm Ra Của (Ādiya Sutta), AN 5.41 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 3.19 và 3.20, Kinh Không Con (Aputtaka Sutta), SN 3.19 trên SuttaCentral; SN 3.20 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 8.6, Kinh Tám Pháp Thế Gian, AN 8.6 trên SuttaCentral.
  5. Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt, DN 31 trên SuttaCentral; Pháp Cú, kệ 204, Dhp 197–208 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  7. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh