Nghiệp và tái sinh

Tham sân si là gì? Ba gốc rễ sinh nghiệp và cách nhổ theo kinh gốc

Tham sân si là ba gốc rễ sinh ra nghiệp, và Niết-bàn chính là sự đoạn tận ba gốc rễ ấy. Bài viết trình bày tham, sân, si là gì theo kinh, vì sao chúng lớn lên và mỗi thứ được nhổ bằng cách nào.

Tóm lại: Tham, sân và si là ba nguyên nhân khởi lên nghiệp, với mức nặng nhẹ khác nhau: tham tội nhỏ nhưng dứt chậm, sân tội lớn nhưng dứt nhanh, si tội lớn và dứt chậm. Tham được nhổ bằng tướng bất tịnh, sân bằng từ tâm giải thoát, si bằng như lý tác ý, và Niết-bàn là đoạn tận cả ba.

Tham sân si là ba nguyên nhân khởi lên nghiệp

Chữ Pāli cho tham là lobha, sự tham muốn, lòng tham lam muốn chiếm giữ. Chữ Pāli cho sân là dosa, sự sân hận, lòng giận dữ và chống đối. Chữ Pāli cho si là moha, sự si mê, không thấy rõ sự thật. Ba chữ này thường được gọi chung là ba độc, theo cách nói quen thuộc.

Kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, ngôn ngữ gốc của kinh, nói về ba thứ này trong nhiều bài kinh. Kinh Nguyên Nhân nêu vai trò của chúng một cách trực tiếp:

“Có ba nguyên nhân này, này các Tỷ-kheo, khởi lên các nghiệp. Thế nào là ba? Tham là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Sân là nguyên nhân khởi lên các nghiệp. Si là nguyên nhân khởi lên các nghiệp.” (AN 3.34:1.1–1.3; Pāli: Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi? Lobho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, doso nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, moho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya)

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, chữ nguyên nhân ở đây có nghĩa là ba thứ này là gốc rễ sinh ra nghiệp, tức hành động có tác ý của thân, khẩu và ý. Một hành động khởi lên từ tham thì mang dấu ấn của tham, một hành động khởi lên từ sân thì mang dấu ấn của sân, và một hành động khởi lên từ si thì mang dấu ấn của si. Vì vậy, muốn hiểu nghiệp thì phải hiểu ba gốc rễ này trước.

Ba gốc rễ nặng nhẹ khác nhau

Ba gốc rễ không giống nhau về mức nặng nhẹ và tốc độ dứt bỏ. Kinh Các Du Sĩ Ngoại Đạo so sánh ba thứ này như sau:

“Tham, thưa các Hiền giả, là tội nhỏ, nhưng ly tham là chậm chạp. Sân là tội lớn, nhưng ly sân là mau chóng. Si là tội lớn, và ly si là chậm chạp.” (AN 3.68:2.8; Pāli: rāgo kho, āvuso, appasāvajjo dandhavirāgī, doso mahāsāvajjo khippavirāgī, moho mahāsāvajjo dandhavirāgīti)

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sự so sánh này giúp người đọc không đánh đồng ba thứ. Tham là tội nhỏ nhưng ly tham là chậm chạp, nghĩa là tham gây hại ít hơn sân và si trong từng lần khởi lên nhưng lại khó dứt vì nó bám rễ sâu vào sự ưa thích. Sân là tội lớn nhưng ly sân là mau chóng, nghĩa là sân gây hại nặng trong từng lần khởi lên nhưng lại dễ nhận ra và dễ dứt hơn vì nó bộc lộ rõ ràng. Si là tội lớn và ly si là chậm chạp, nghĩa là si vừa gây hại nặng vừa khó dứt vì nó là sự không thấy rõ, và người không thấy rõ thì khó biết bản thân cần sửa chỗ nào.

Trang Niết-bàn là gì: sự dập tắt của tham, sân, si giải thích thêm về Niết-bàn như là sự dập tắt của ba thứ này, và trang Nghiệp là gì, và vì sao nghiệp không phải số mệnh giúp bạn đọc hiểu nghiệp không phải là số mệnh cố định mà là hành động có thể đổi thay khi gốc rễ của nó được nhổ.

Tham lớn lên vì tác ý không như lý

Tham không tự nhiên lớn lên mà lớn lên vì cách tâm tác ý, tức cách tâm hướng đến và nắm giữ một đối tượng. Kinh Các Du Sĩ Ngoại Đạo nói về điều này như sau:

“Cần phải trả lời là “Tịnh tướng”. “Với ai không như lý tác ý tịnh tướng, thời tham chưa sanh được sanh khởi, và tham đã sanh được tăng trưởng quảng đại.” (AN 3.68:3.2–3.3; Pāli: Subhanimittantissa vacanīyaṁ. Tassa subhanimittaṁ ayoniso manasi karoto anuppanno vā rāgo uppajjati uppanno vā rāgo bhiyyobhāvāya vepullāya saṁvattati)

Chữ Pāli cho tác ý không như lý là ayoniso manasikāra, sự chú ý không đúng cách, không hợp lý. Tướng đẹp, tiếng Pāli là subhanimitta, là dấu hiệu đẹp đẽ của một đối tượng mà tâm nắm giữ. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, khi tâm chỉ nhìn vào mặt đẹp của một đối tượng và không nhìn vào những mặt khác của nó thì tham chưa sanh sẽ sanh khởi, và tham đã sanh sẽ lớn thêm. Ví dụ, một người chỉ nhìn vào vẻ ngoài hấp dẫn của một món đồ mà không nhìn vào giá cả, công dụng và hậu quả của việc mua nó thì lòng muốn mua sẽ lớn dần lên.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, điểm quan trọng ở đây là cách tác ý của tâm sinh ra tham, chứ không phải đối tượng tự nó sinh ra tham. Vì vậy, việc nhổ tham cũng bắt đầu từ việc đổi cách tác ý, chứ không phải từ việc chạy trốn mọi đối tượng.

Tham được nhổ bằng tướng bất tịnh

Cách nhổ tham mà kinh nêu là như lý tác ý về tướng bất tịnh. Kinh Các Du Sĩ Ngoại Đạo nói về điều này như sau:

“Cần phải trả lời là “Tướng bất tịnh”. “Với ai như lý tác ý tướng bất tịnh, thời tham chưa sanh không sanh khởi, hay tham đã sanh được đoạn tận.” (AN 3.68:6.2–6.3; Pāli: Asubhanimittantissa vacanīyaṁ. Tassa asubhanimittaṁ yoniso manasi karoto anuppanno ceva rāgo nuppajjati uppanno ca rāgo pahīyati)

Chữ Pāli cho tướng bất tịnh là asubhanimitta, dấu hiệu không đẹp, không sạch của một đối tượng. Chữ Pāli cho tác ý như lý là yoniso manasikāra, sự chú ý đúng cách, hợp lý. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, tướng bất tịnh ở đây là một đề mục thiền, tức một đối tượng để tâm quán chiếu trong lúc tu tập, chứ không phải là lời khuyên ép bản thân ghê sợ thân thể hay ghê sợ đời sống.

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, như lý tác ý về tướng bất tịnh là tác ý về dấu hiệu không đẹp, không sạch của đối tượng, để tâm không còn chỉ bám vào một mặt đẹp duy nhất. Khi tâm tác ý như vậy thì tham chưa sanh không sanh khởi, và tham đã sanh được đoạn tận.

Sân được nhổ bằng từ tâm giải thoát

Sân, khác với tham, được nhổ bằng từ tâm giải thoát. Kinh Các Du Sĩ Ngoại Đạo nói về điều này như sau:

“Cần phải trả lời là “Từ tâm giải thoát”. “Với ai như lý tác ý từ tâm giải thoát, thời sân chưa sanh không sanh khởi, hay sân đã sanh được đoạn tận.” (AN 3.68:7.2–7.3; Pāli: Mettā cetovimuttītissa vacanīyaṁ. Tassa mettaṁ cetovimuttiṁ yoniso manasi karoto anuppanno ceva doso nuppajjati uppanno ca doso pahīyati)

Chữ Pāli cho từ tâm giải thoát là mettā cetovimutti, tâm từ đã trở thành chỗ giải thoát. Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, sân là sự chống đối và muốn loại trừ, còn từ tâm là sự mong muốn điều tốt lành cho mọi chúng sanh, nên hai trạng thái này đối lập trực tiếp với nhau. Khi tâm an trú trong từ tâm thì sân chưa sanh không có chỗ sanh khởi, và sân đã sanh cũng được đoạn tận vì tâm đã có một chỗ trú khác vững vàng hơn.

Trang Tâm từ là gì, rải tâm từ thế nào, và được lợi ích gì nói kỹ hơn về tâm từ và cách rải tâm từ, và trang Làm sao để bớt nóng giận: bốn lời dạy từ kinh gốc nói thêm về việc đối trị cơn giận trong đời sống hằng ngày.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải vốn hay nổi giận khi bị người khác chen ngang lúc xếp hàng, từ khi chú tập nghĩ đến điều tốt lành cho người chen ngang thay vì chỉ nghĩ đến sự bực bội của bản thân thì cơn giận của chú dịu nhanh hơn, và chú nhận ra rằng cơn giận chỉ kéo dài khi tâm không có một chỗ trú khác.

Si được nhổ bằng cách nào

Bài viết đã nói về cách nhổ tham và cách nhổ sân theo Kinh Các Du Sĩ Ngoại Đạo. Kinh này cũng nêu cách nhổ si: si chưa sanh không sanh khởi và si đã sanh được đoạn tận nhờ như lý tác ý, tức sự chú ý đúng cách, hợp lý (AN 3.68:8.2–8.3).

Trang Năm triền cái: năm thứ làm vẩn đục bát nước tâm, và cách lắng trong nói thêm về năm thứ che lấp tâm, và bạn đọc có thể đọc thêm trang ấy để hiểu vì sao tâm mờ mịt thì khó thấy rõ.

Đoạn tận ba thứ ấy là Niết-bàn

Con đường nhổ tham, sân và si đi đến một đích mà Kinh Câu Hỏi Về Niết-bàn nêu rất ngắn gọn:

“Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây gọi là Niết-bàn.” (SN 38.1:2.3–2.4; Pāli: Yo kho, āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo— idaṁ vuccati nibbānanti)

Theo cách đọc của người viết, không phải câu trong kinh, câu này định nghĩa Niết-bàn không bằng một hình ảnh xa xôi mà bằng chính sự đoạn tận của ba gốc rễ. Khi tham không còn, sân không còn và si không còn thì không còn gốc rễ nào sinh ra nghiệp khổ nữa, và trạng thái ấy được gọi là Niết-bàn. Định nghĩa này cũng cho thấy vì sao việc nhổ ba gốc rễ không phải là việc phụ thêm bên ngoài con đường giải thoát mà chính là con đường giải thoát.

Hỏi nhanh

Tham sân si là gì?

Tham, sân và si là ba nguyên nhân khởi lên các nghiệp, theo Kinh Nguyên Nhân (AN 3.34, đoạn 1.1–1.3).

Tham, sân, si khác nhau thế nào về mức nặng và độ khó dứt?

Tham là tội nhỏ nhưng dứt chậm, sân là tội lớn nhưng dứt nhanh, si là tội lớn và dứt chậm (AN 3.68, đoạn 2.8).

Tham lớn lên vì sao và nhổ bằng gì?

Tham lớn lên vì tác ý không như lý về tướng đẹp, và được nhổ bằng như lý tác ý về tướng bất tịnh (AN 3.68, đoạn 6.2–6.3).

Sân được nhổ bằng gì?

Sân được nhổ bằng từ tâm giải thoát, tức tâm từ đã trở thành chỗ giải thoát (AN 3.68, đoạn 7.2–7.3).

Si được nhổ bằng gì?

Si chưa sanh không sanh khởi và si đã sanh được đoạn tận nhờ như lý tác ý, tức sự chú ý đúng cách, hợp lý (AN 3.68:8.2–8.3).

Câu chốt: Tham, sân và si là ba gốc rễ sinh nghiệp, và đoạn tận cả ba gốc rễ ấy chính là Niết-bàn.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 3.34, Kinh Nguyên Nhân (Nidāna Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 3.34 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 3.34 Pāli.
  2. Tăng Chi Bộ 3.68, Kinh Các Du Sĩ Ngoại Đạo (Aññatitthiya Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 3.68 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 3.68 Pāli.
  3. Tương Ưng Bộ 38.1, Kinh Câu Hỏi Về Niết-bàn (Nibbānapañha Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 38.1 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 38.1 Pāli.
  4. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chú Khải trong ví dụ trên là ví dụ của người viết, không có trong kinh.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm