Hiểu đúng

Cầu an, cầu siêu theo Nam truyền: sức mạnh của sự thật, tâm từ và việc thiện

Lễ cầu an đầu năm, lễ cầu siêu ngày giỗ là nét đẹp của người Việt. Truyền thống Nam truyền cũng có những thời tụng tương tự, gọi là tụng kinh hộ trì. Đọc lại kinh gốc giúp ta giữ được tấm lòng mà vẫn hiểu đúng điều mình đang làm.

Tóm lại: Cầu an theo Nam truyền là tụng các kinh hộ trì (paritta), những bài kinh nói về sự thật của Tam Bảo, về tâm từ và các pháp giác ngộ. Cầu siêu là làm việc thiện rồi hồi hướng theo Kinh Ngoài Bức Tường. Kinh dạy rằng sức mạnh không nằm ở lời van xin, mà ở sự thật, tâm từ, lòng tin và việc thiện.

Kinh hộ trì là gì

Chữ paritta nghĩa là che chở, bảo hộ. Theo truyền thống, một số bài kinh được gom lại để tụng trong lễ cầu an, khánh thành, khi có người bệnh hay khi đi xa: Kinh Châu Báu, Kinh Từ Bi, Kinh Hạnh Phúc, các bài về Thất giác chi và nhiều bài khác. Bản thân các bài ấy là kinh; việc gom thành tập và tụng trong nghi lễ là truyền thống.

Kinh Châu Báu là bài tiêu biểu. Mỗi đoạn nêu một phẩm chất của Phật, Pháp hay Tăng, rồi kết bằng một lời xác quyết:

Phàm có tài sản gì,
Đời này hay đời sau,
Hay ở tại thiên giới,
Có châu báu thù thắng,
Không gì sánh bằng được,
Với Như Lai, Thiện Thệ
Như vậy, nơi Đức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.

Kinh Tập 2.1, kệ 3

Đây là lời nói dựa trên sự thật (sacca), không phải câu thần chú. Theo chú giải, bài kinh được nói ra khi thành Vesālī gặp nạn đói và dịch bệnh; câu chuyện ấy thuộc về chú giải, còn lời kinh thì nằm trong Kinh Tập. Ngay phần đầu, Kinh Châu Báu kêu gọi các chúng sinh vô hình đang tụ hội hãy khởi tâm từ với loài người, những người ngày đêm dâng cúng cho họ, và hãy chuyên cần bảo hộ loài người (Snp 2.1, kệ 2).

Kinh ghi lại những lần khỏi bệnh

Tương Ưng Bộ 46.14 kể Tôn giả Mahākassapa bệnh nặng. Đức Phật đến thăm và nói về bảy giác chi, những pháp “do Như Lai khéo giảng, khi được tu tập và làm cho sung mãn thì dẫn đến thắng trí, chánh giác và Niết-bàn”. Tôn giả hoan hỷ, “và Tôn giả Mahākassapa khỏi bệnh ấy” (SN 46.14, đoạn 3.1 và 4.3). Tăng Chi Bộ 10.60 kể Tôn giả Girimānanda bệnh nặng, Tôn giả Ānanda đọc cho vị ấy mười tưởng do Đức Phật dạy, và bệnh lắng dịu ngay tại chỗ (AN 10.60, đoạn 15.2).

Hãy để ý: trong cả hai trường hợp, người bệnh lắng nghe giáo pháp, hiểu và hoan hỷ. Lời kinh tác động qua tâm người nghe, chứ không như một bùa chú. Kinh cũng không hứa rằng mọi cơn bệnh đều sẽ khỏi nhờ tụng kinh; bài Đối diện bệnh tật và cái chết nói về cách nương tựa giáo pháp khi bệnh không lành.

Lời cầu xin không đổi được nghiệp

Trưởng làng Asibandhakaputta thưa với Đức Phật: có những Bà-la-môn làm lễ đưa người chết lên cõi trời, vậy Ngài có thể làm cho mọi người sau khi chết đều sinh lên cõi lành không? Đức Phật hỏi lại: nếu một người sống ác, rồi đám đông tụ họp chắp tay cầu cho người ấy lên trời, người ấy có lên trời được không? Ngài so sánh:

—Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn!

Tương Ưng Bộ 42.6, đoạn 5.1–5.5

Điều này không phủ nhận lễ cầu an, cầu siêu. Nó giúp ta đặt lòng tin vào đúng chỗ: nghiệp do chính việc làm của mỗi người, và việc thiện thì không bao giờ mất.

Cầu siêu theo Kinh Ngoài Bức Tường

Kinh Ngoài Bức Tường là bài chư Tăng Nam truyền vẫn tụng trong lễ cầu siêu. Kinh dạy người thân làm việc thiện rồi nói: “Mong điều này đến với bà con chúng ta, mong bà con được an vui” (Khp 7, kệ 4). Phần phước ấy đến với người đã khuất “như nước mưa trên gò cao chảy xuống chỗ trũng” (kệ 8). Tăng Chi Bộ 10.177 cho biết người tái sinh làm ngạ quỷ thì sống nhờ những gì thân quyến, bạn bè gửi đến từ đây, và người bố thí thì không bao giờ không có quả (AN 10.177, đoạn 7.3 và 9.3). Cách tổ chức tang lễ theo tinh thần này có trong bài Tang lễ theo Phật giáo Nam truyền.

Lễ cầu an, cầu siêu của Bắc tông cũng có nhiều bài kinh và nghi thức đẹp. Mỗi truyền thống có cách riêng; điều chung là tâm thương và việc thiện.

Làm sao cho đúng tinh thần

Thử hình dung một gia đình có mẹ già sắp mổ. Họ thỉnh chư Tăng về nhà tụng kinh hộ trì. Cả nhà ngồi nghe, cố hiểu từng đoạn, rồi cùng khởi tâm từ như Kinh Từ Bi dạy: “mong tất cả chúng sinh được hạnh phúc” (Snp 1.8, kệ 3). Người mẹ thấy lòng yên, bớt sợ trước ca mổ. Gia đình vẫn nghe theo bác sĩ. Đó là cầu an đúng nghĩa: không thay thầy thuốc, nhưng nâng đỡ tâm người bệnh và người thân.

Một gợi ý nhỏ

Lần tới khi dự lễ cầu an hay cầu siêu, bạn thử mang theo bản dịch, đọc theo nghĩa từng đoạn chư Tăng đang tụng. Khi lời kinh nhắc đến Phật, Pháp, Tăng, hãy để lòng mình cùng hướng về đó. Một thời tụng được nghe bằng cả tâm thì lợi ích cho chính bạn ngay lúc ấy.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 2.1, Kinh Châu Báu (Ratana Sutta), Snp 2.1 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 46.14, Kinh Bệnh thứ nhất (Gilāna Sutta), SN 46.14 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 10.60, Kinh Girimānanda, AN 10.60 trên SuttaCentral.
  4. Tương Ưng Bộ 42.6, Kinh Asibandhakaputta, SN 42.6 trên SuttaCentral.
  5. Tiểu Tụng 7, Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokuṭṭa Sutta), Khp 7 trên SuttaCentral.
  6. Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi, AN 10.177 trên SuttaCentral.
  7. Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi, Snp 1.8 trên SuttaCentral.
  8. Chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā II), về duyên khởi Kinh Châu Báu tại Vesālī.
  9. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  10. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Đọc nguyên văn bài kinh