Tu tại gia hay xuất gia: Đức Phật trả lời thế nào
Có người đọc kinh, thấy lòng mình muốn đi tu, rồi lại băn khoăn: còn cha mẹ, còn công việc, còn gia đình. Có người thì nghĩ: ở nhà tu cũng được, cần gì xuất gia. Đức Phật đã được hỏi đúng câu này, và câu trả lời của Ngài rất công bằng.
Câu hỏi của chàng Subha
Chàng thanh niên Subha thưa với Đức Phật: các Bà-la-môn nói rằng người tại gia thành tựu chánh pháp thiện lành, còn người xuất gia thì không. Ngài nghĩ thế nào? Đức Phật đáp:
—Này thanh niên Bà-la-môn, ở đây, Ta chủ trương phân tích; ở đây, Ta không chủ trương nói một chiều. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta không tán thán tà đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia. Này Thanh niên Bà-la-môn, kẻ tại gia hay kẻ xuất gia hành tà đạo, do nhân duyên hành tà đạo, không thành tựu được chánh đạo thiện pháp. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta tán thán chánh đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia.
Trung Bộ 99, đoạn 4.4–4.9
Subha hỏi tiếp: việc nhà nhiều bổn phận, nhiều công sức, thì quả lớn; việc xuất gia ít bổn phận thì quả nhỏ, có phải không? Đức Phật lại phân tích bằng một ví dụ rất thực tế. Đời sống gia đình giống nghề nông: nhiều việc, nhiều lo toan; thất bại thì quả nhỏ, thành công thì quả lớn. Đời sống xuất gia giống nghề buôn: ít việc, ít lo toan; nhưng cũng vậy, thất bại thì quả nhỏ, thành công thì quả lớn (MN 99, đoạn 5.1–7.8). Không có con đường nào tự động thành công. Điều quyết định là người đi có đi đúng hay không.
Vì sao kinh vẫn tán thán xuất gia
Kinh Sa-môn Quả (Trường Bộ 2) tả lại tâm tư của người nghe pháp rồi phát tâm xuất gia: “Sống tại gia thì chật chội, như lối đi bám bụi; xuất gia thì thênh thang như khoảng trời mở. Ở trong nhà mà sống đời phạm hạnh trọn vẹn tuyệt đối, trong sạch tuyệt đối, sáng bóng như vỏ ốc đã đánh bóng, quả thật không dễ” (DN 2, đoạn 41.4–41.5). Đây là sự thật về điều kiện sống. Người xuất gia không phải lo cơm áo cho gia đình, không phải thức khuya vì công việc, có cả ngày cho học và hành.
Nhưng xuất gia không tự nó đem lại kết quả. Tương Ưng Bộ 22.80 dùng một hình ảnh nặng nề: người xuất gia mà tâm vẫn đầy tham dục, sân hận, thất niệm, thì như que củi đốt xác hai đầu cháy, giữa dính phân, chẳng dùng được ở làng hay ở rừng; người ấy “mất phần hưởng thụ của người tại gia, mà cũng không làm tròn mục đích của đời Sa-môn” (SN 22.80, đoạn 7.2–7.4).
Rất nhiều cư sĩ đã chứng quả
Du sĩ Vacchagotta hỏi Đức Phật: ngoài chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, có cư sĩ tại gia nào chứng quả cao không? Đức Phật đáp: không phải một trăm, hai trăm hay năm trăm, mà nhiều hơn thế những cận sự nam áo trắng sống phạm hạnh đã đoạn năm hạ phần kiết sử, chứng quả Bất lai; và nhiều hơn thế những cận sự nam áo trắng vẫn hưởng dục lạc mà đã vượt qua nghi ngờ, vững tin, không cần dựa vào ai khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư (Trung Bộ 73, đoạn 9.3 và 10.3). Kinh nói y như vậy về các cận sự nữ (đoạn 11.3 và 12.3).
Ông bà Nakulapitā là một ví dụ đẹp về người tu tại gia: tuổi già, bệnh tật, mà vẫn được Đức Phật dạy cách giữ tâm không bệnh dù thân có bệnh (Tương Ưng Bộ 22.1). Kinh Vợ Chồng Sống Chung (Tăng Chi Bộ 4.55) kể chính hai ông bà mong được gặp nhau trong đời sau. Bài Phật tử tại gia sống thế nào gom lại những lời dạy cho người ở nhà.
Hai bên nương tựa nhau
Đức Phật nói với chư Tỷ-kheo: “Các Bà-la-môn và gia chủ rất có ích cho các con, vì họ dâng các con y áo, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men. Các con cũng rất có ích cho họ, vì các con giảng cho họ Pháp tốt ở đoạn đầu, tốt ở đoạn giữa, tốt ở đoạn cuối. Như vậy, nương tựa lẫn nhau mà đời sống phạm hạnh được sống, để vượt qua dòng nước lũ, để chấm dứt khổ đau” (Như Thị Thuyết 107, đoạn 2.1–2.3). Không có người tại gia, người xuất gia không có cơm ăn; không có người xuất gia, người tại gia thiếu người giữ và giảng Pháp.
Nếu bạn đang băn khoăn
Luật tạng ghi rằng sau khi Tôn giả La-hầu-la (Rāhula) xuất gia, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) đau lòng thưa với Đức Phật: tình thương con cắt qua da, qua thịt, qua gân, qua xương, đến tận tủy. Đức Phật chế định từ đó: không được cho người con xuất gia khi chưa có phép của cha mẹ (Luật tạng, Đại Phẩm, đoạn 54.5.2–54.6.4). Lòng muốn xuất gia và tình gia đình không phải kẻ thù của nhau. Thử hình dung một chàng trai hai mươi lăm tuổi muốn đi tu, nhưng cha mẹ đã già và chỉ có mình anh. Anh có thể ở nhà chăm cha mẹ, giữ tám giới vào ngày Bố-tát, học kinh và ngồi thiền mỗi tối, rồi hỏi lại lòng mình khi hoàn cảnh đổi khác. Theo truyền thống các nước Nam truyền, nhiều người xuất gia gieo duyên một thời gian ngắn, như bài Tu gieo duyên giới thiệu, để tự biết lòng mình.
Một gợi ý nhỏ
Dù bạn ở nhà hay muốn đi tu, hãy bắt đầu từ điều cả hai con đường đều cần: giữ năm giới thật trọn trong một tháng, mỗi ngày ngồi yên một chút, mỗi tuần đến chùa nghe pháp. Rồi hỏi lại lòng mình. Câu trả lời thường rõ hơn khi tâm đã lắng.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Trung Bộ 99, Kinh Subha, MN 99 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 2, Kinh Sa-môn Quả (Sāmaññaphala Sutta), DN 2 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 22.80, Kinh Khất Thực (Piṇḍolya Sutta), SN 22.80 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 73, Đại Kinh Vacchagotta (Mahāvaccha Sutta), MN 73 trên SuttaCentral.
- Như Thị Thuyết 107, Kinh Rất Có Ích (Bahukāra Sutta), Iti 107 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 22.1, Kinh Nakulapitā, SN 22.1 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Đại Phẩm, chương thứ nhất (Mahākhandhaka), Kd 1 trên SuttaCentral.
- Các đoạn trích Luật tạng do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Brahmali.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.