Vong linh là gì? Kinh Nikāya không dùng chữ vong
Kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, không dùng chữ vong linh, không nói vong sợ tỏi hay nhập xác, mà nói về hương linh đã chết, tức peta theo cách gọi trong kinh. Bài này nói rõ chữ vong không có trong kinh và làm gì cho đúng với lời kinh.
Chữ vong không có trong kinh: kinh Nikāya nói gì về người đã chết
Chữ vong linh quen thuộc trong đời sống hằng ngày, nhưng kinh Nikāya không dùng chữ này. Kinh nói về người đã chết và về peta, hương linh đã chết, chứ không nói về một vong vất vưởng sợ tỏi hay nhập xác. Theo cách đọc của người viết, nói thẳng điều kinh không nói giúp bạn khỏi đem những điều nghe ngoài đời gán cho lời Phật, và cũng giúp bạn bình tĩnh hơn khi nghe những chuyện dọa dẫm về vong.
Cúng cho người đã khuất có đến được không: Kinh Jāṇussoṇi (AN 10.177) trả lời
Kinh trả lời câu hỏi cúng cho người đã khuất có đến được hay không bằng một điều kiện “Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.” (AN 10.177:2.6; Pāli: Ṭhāne kho, brāhmaṇa, upakappati, no aṭṭhāneti). Chữ tương ưng xứ ở đây chỉ trường hợp người nhận đang ở cảnh giới có thể nhận được sự hồi hướng. Theo cách đọc của người viết, câu trả lời này vừa thẳng thắn vừa nhẹ nhàng: kinh không hứa mọi lễ cúng đều đến được, nhưng cũng không nói mọi lễ cúng đều vô ích.
Kinh nói thêm rằng người bố thí không phải không có hưởng quả “Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.” (AN 10.177:9.2–9.3; Pāli: Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ taṁ ṭhānaṁ vivittaṁ assa iminā dīghena addhunā yadidaṁ petehi ñātisālohitehi. Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphaloti). Theo cách đọc của người viết, câu này đặt trọng tâm đúng chỗ: việc thiện bạn làm vẫn có quả cho chính bạn, dù người nhận có hưởng được phần hồi hướng hay không, nên bạn không cần lo rằng công sức của bạn mất trắng.
Người tại gia làm gì cho hương linh: Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản (AN 5.41) dạy hiến cúng
Kinh dạy người tại gia dùng của cải chân chính để làm năm hiến cúng “có thể làm năm hiến cúng. Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên.” (AN 5.41:4.1–4.2; Pāli: Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi pañcabaliṁ kattā hoti. Ñātibaliṁ, atithibaliṁ, pubbapetabaliṁ, rājabaliṁ, devatābaliṁ—). Theo cách đọc của người viết, hiến cúng cho hương linh đã chết trong kinh là một phần của đời sống tại gia đúng pháp, cùng với hiến cúng cho bà con, khách, vua và chư thiên, chứ không phải một lễ riêng để trừ tà hay gọi vong. Bài viết về thỉnh vong, căn đồng nói thêm về điều gì thật sự giúp người đã khuất.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan và mâm cúng giỗ
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan nghe người ta nói vong sợ tỏi nên định đặt tỏi quanh mâm cúng giỗ của cha, rồi chị đọc lời dạy rằng kinh không nói chuyện ấy và việc cúng có lợi ích khi có tương ưng xứ, nên chị bỏ tỏi đi, làm một mâm cúng giản dị và dành một phần tiền cúng để giúp một hộ nghèo trong xóm, và chị thấy việc giỗ trở nên ấm cúng hơn là lo sợ.
Hỏi nhanh
Vong linh có thật không theo kinh?
Kinh Nikāya không dùng chữ vong linh và không nói vong sợ tỏi hay nhập xác. Kinh chỉ nói về hương linh đã chết, tức peta theo cách gọi trong kinh.
Cúng vong có đến được người đã khuất không?
Kinh dạy việc cúng có lợi ích khi có tương ưng xứ, và không có lợi ích khi không có tương ưng xứ (AN 10.177, đoạn 2.6).
Nếu người khuất không nhận được thì việc cúng có mất không?
Không, kinh dạy người bố thí không phải không có hưởng quả (AN 10.177, đoạn 9.2–9.3), và người tại gia vẫn làm hiến cúng cho hương linh đã chết (AN 5.41, đoạn 4.1–4.2).
Câu chốt: Kinh không dùng chữ vong, chỉ dạy việc cúng cho hương linh có lợi ích khi có tương ưng xứ, còn người làm thiện thì không mất quả.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇi Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 10.177 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 10.177 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 5.41, Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản (Ādiya Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.41 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.41 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chị Lan trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.