Thỉnh vong, căn đồng: kinh nói gì, và điều gì thật sự giúp người đã khuất
Mất người thân, ai cũng mong được nghe một lời của người đã đi. Vì thế những lời mời “thỉnh vong”, “gặp lại người thân qua căn đồng” dễ chạm vào lòng người đang đau. Bài này không nhằm chê ai, mà để cùng đọc lại điều kinh nói, và điều kinh chỉ cho ta làm.
Nỗi nhớ là thật
Thử hình dung một người mẹ mất đứa con trai trong tai nạn. Có người đến nói: chỉ cần một khoản tiền, sẽ có buổi “thỉnh vong” để chị nghe con nhắn nhủ. Ai đã từng mất người thân sẽ hiểu vì sao lời mời ấy khó từ chối. Vì vậy, trước khi nói điều kinh dạy, cần nói rằng nỗi nhớ của người ở lại là chính đáng, và mong muốn làm điều gì đó cho người đã đi là một tấm lòng đẹp.
Kinh Ngoài Bức Tường hiểu nỗi đau ấy, nhưng cũng nói thẳng: “Vì khóc lóc hay sầu muộn hay các cách than van khác đều không ích gì cho người đã khuất, khi bà con cứ mãi như vậy” (Khp 7, kệ 11). Câu hỏi đúng không phải là “làm sao nghe được tiếng họ”, mà là “làm gì để giúp được họ”.
Kinh Phạm Võng nói gì
Trong phần “Đại giới”, kinh kể những nghề mà “một số Sa-môn, Bà-la-môn ăn vật thực do tín tâm dâng cúng” dùng để nuôi mạng, và nói Sa-môn Gotama tránh xa. Trong đó có các thuật về ma quỷ (bhūtavijjā, đoạn 1.21.2), việc hỏi gương, hỏi qua một cô gái, hỏi thần (devapañha, đoạn 1.26.2), và các lễ cúng cho ma quỷ (bhūtakamma, đoạn 1.27.2). Theo chú giải Trường Bộ (Sumaṅgalavilāsinī), “hỏi thần” là hỏi qua một người được cho là có thần nhập vào; đây là cách hiểu của chú giải, không phải chữ của chính kinh, nhưng khá gần với điều ngày nay gọi là căn đồng.
Cũng như ở bài Xem ngày, phong thủy, danh sách này trước hết nói về cách kiếm sống của người xuất gia. Nhưng nó cho người tại gia thấy một điều: Đức Phật không xem những việc ấy là con đường giúp ai, và Ngài không làm. Khi một nghi thức đòi khoản tiền lớn, hứa hẹn điều không kiểm chứng được, lại làm người đang đau thêm sợ hãi, bạn có quyền dừng lại và tự hỏi theo lời Kinh Kālāma: điều này khi làm theo có đưa đến lợi ích và an vui không (AN 3.65).
Điều kinh dạy để giúp người đã khuất
Tăng Chi Bộ 10.177 ghi lại câu hỏi của bà-la-môn Jāṇussoṇi: những bố thí làm cho người thân đã khuất có đến được với họ không? Đức Phật đáp: đến được khi họ ở nơi thích hợp, không đến được khi ở nơi không thích hợp (đoạn 2.4–2.6). Nơi thích hợp ấy là cõi ngạ quỷ, nơi chúng sinh “sống nhờ những gì bạn bè, thân quyến từ đây gửi đến” (đoạn 7.3–7.4). Và Ngài thêm một câu rất an ủi: “Người bố thí cũng không bao giờ không có quả” (đoạn 9.3).
Kinh Ngoài Bức Tường chỉ cách làm: những ai có lòng thương thì bố thí cho bà con đã khuất, đúng lúc, sạch sẽ, thích hợp, và nguyện “Mong điều này đến với bà con chúng ta, mong bà con được an vui!” (Khp 7, kệ 3–4). Như nước mưa trên gò cao chảy xuống chỗ trũng, những gì cho từ đây đem lợi ích cho người đã khuất (kệ 8). Món cúng dường được đặt vững nơi Tăng chúng thì đem lại lợi ích lâu dài cho họ (kệ 12).
Về những chúng sinh không thấy được
Kinh không phủ nhận có những chúng sinh ta không thấy được. Nhưng thái độ Đức Phật dạy là tâm từ, không phải sợ hãi hay trấn áp. Kinh Châu Báu mở đầu bằng lời gửi đến “chúng sinh nào tụ hội nơi đây, hoặc trên mặt đất, hoặc ở hư không”, và mời họ “hãy khởi tâm từ với loài người” (Kinh Tập 2.1, kệ 1–2). Với những nỗi sợ về “duyên âm”, đây là lối đi bình an hơn mọi nghi lễ: giữ giới, sống tử tế, gửi tâm từ và hồi hướng phước.
Một gợi ý nhỏ
Nếu bạn đang nhớ một người đã mất, hãy chọn một ngày, như ngày giỗ, để dâng cơm chư Tăng hoặc làm một việc thiện nhân danh người ấy, rồi đọc kệ 4 của Kinh Ngoài Bức Tường và hồi hướng. Bài Hồi hướng công đức thế nào và bài Mất người thân, Phật dạy gì có thể đi cùng bạn trong những ngày này.
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 1, Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta), đoạn 1.21–1.27, DN 1 trên SuttaCentral.
- Chú giải Trường Bộ (Sumaṅgalavilāsinī), phần giải thích Kinh Phạm Võng, về chữ devapañha.
- Tiểu Tụng 7, Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokuṭṭa Sutta), Khp 7 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi, AN 10.177 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 2.1, Kinh Châu Báu (Ratana Sutta), Snp 2.1 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 3.65, Kinh Kālāma, AN 3.65 trên SuttaCentral.
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.