Hiểu đúng

Xem bói, cúng sao giải hạn: kinh Phật nói gì?

Mỗi dịp đầu năm, nhiều chùa đông người đến dâng sao giải hạn. Đọc thẳng vào kinh Nikāya, ta thấy Đức Phật đã trả lời câu hỏi này rất rõ, và rất ôn hòa.

Tóm lại: kinh Nikāya không có nghi lễ cúng sao hay giải hạn. Đức Phật xếp xem tướng, đoán điềm, cúng tế cầu may vào “tà mạng” và tự mình tránh xa. Ngài dạy điều lành không đến từ lời khấn, mà từ việc ta làm. Hiểu đúng điều này không phải để chê người khác, mà để dồn tâm sức vào chỗ thật sự có ích.

Kinh Phạm Võng: những việc Đức Phật tránh xa

Bài kinh đầu tiên của Trường Bộ, Kinh Phạm Võng, có một đoạn dài liệt kê những nghề mà “một số sa-môn, bà-la-môn” thời ấy dùng để kiếm sống. Đọc lên, ta sẽ thấy rất quen:

Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải v.v … vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa những tà hạnh kể trên.—Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tường đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

Trường Bộ 1, đoạn 1.21–1.27 (lược ý)

Kinh dùng chữ tiracchānavijjā, nghĩa là “học thuật thấp kém”, tức những hiểu biết không đưa đến giải thoát. Đây không phải lời phán xét người đi xem, mà là mô tả điều Đức Phật không làm và không dạy.

Hòn đá không nổi lên vì lời cầu khấn

Trong Tương Ưng Bộ 42.6, một người hỏi Đức Phật: có những vị bà-la-môn làm lễ để người chết được lên cõi trời, Ngài có làm được như vậy không? Đức Phật trả lời bằng một câu hỏi ngược lại:

—Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng: “Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào bờ không?

Tương Ưng Bộ 42.6, đoạn 5.1–7.5 (lược ý)

Người làm mười điều ác thì như hòn đá, người làm mười điều thiện thì như bơ nổi. Lời khấn của người khác không làm đổi chiều quả của việc làm (đoạn 4.1–6.2). Ý này cũng là nội dung của bài về nghiệp: ta là chủ nhân của việc mình làm.

Năm điều ai cũng muốn, nhưng không cầu mà được

Đức Phật nói với ông Anāthapiṇḍika, vị cư sĩ giàu lòng bố thí nhất thời ấy:

—Có năm pháp này, này Gia chủ, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là năm? Tuổi thọ khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; dung sắc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; an lạc khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; tiếng đồn tốt khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời; cõi trời khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời. Này Gia chủ, năm pháp này, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời. Này Gia chủ, năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, Ta tuyên bố không phải do nhân cầu xin, không phải do nhân ước vọng mà có được. Này Gia chủ, nếu năm pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ai ở đời này lại héo mòn vì một lẽ gì?

Tăng Chi Bộ 5.43, đoạn 2.1–3.2

Ngay sau đó, Ngài chỉ ra lối đi: người muốn sống lâu thì đừng cầu xin sống lâu, mà hãy thực hành con đường dẫn đến sống lâu (đoạn 4.1–4.2). Cũng vậy với bốn điều còn lại.

Vậy điềm lành thật sự nằm ở đâu?

Khi một vị thiên hỏi Đức Phật về điềm lành cao quý nhất, Ngài không nhắc đến ngày tốt, sao tốt hay hướng nhà. Ngài kể ra những điều như: gần người hiền, phụng dưỡng cha mẹ, thương yêu vợ con, làm việc không rối rắm, bố thí, tránh rượu, biết ơn, nhẫn nại. Toàn bộ mười một bài kệ ấy có trong Kinh Điềm Lành, đáng để in ra dán cạnh bàn làm việc.

Đi chùa đầu năm, nên làm gì?

Không có gì sai khi muốn đầu năm được bình an. Thay vì dâng sao, bạn có thể làm những việc mà kinh xác nhận là có quả thật: thọ trì năm giới, bố thí, nghe pháp, ngồi yên vài phút để rải tâm từ đến người thân và cả người mình không ưa. Và khi còn phân vân trước một tập tục nào đó, hãy xét nó bằng thước đo trong Kinh Kālāma: điều ấy có làm tăng tham, sân, si không, người trí khen hay chê, làm theo thì đưa đến khổ hay lợi ích?

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Trường Bộ 1, Kinh Phạm Võng (Brahmajāla Sutta), đoạn 1.21–1.27, DN 1 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 42.6, Kinh Người Miền Tây (Asibandhakaputta Sutta), SN 42.6 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 5.43, Kinh Khả Lạc (Iṭṭha Sutta), AN 5.43 trên SuttaCentral.
  4. Kinh Tập 2.4, Kinh Điềm Lành (Maṅgala Sutta), Snp 2.4 trên SuttaCentral.
  5. Tăng Chi Bộ 3.65, Kinh Kālāma, AN 3.65 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh