Kinh Du Hành Chân Chánh
Sammāparibbājanīya Sutta
Còn gọi là: Kinh Chánh Du Hành, Kinh Tập 2.13
Rời nhà ra đi rồi, phải sống thế nào mới đúng? Mười lăm bài kệ trả lời, bài nào cũng khép lại bằng một câu: vị ấy sẽ sống du hành chân chánh ở đời.
Trước khi đọc kinh
Kinh Du Hành Chân Chánh (Sammāparibbājanīya Sutta) là bài kinh thứ mười ba trong phẩm Tiểu (Cūḷavagga) của Kinh Tập. Câu hỏi: vị Tỷ-kheo đã rời nhà, gạt bỏ các dục, phải làm sao để sống du hành chân chánh ở đời (kệ 1.1–1.4)? Lời kinh không ghi người hỏi là ai. Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), bài kinh này còn có tên khác là Mahāsamaya (đại hội), chỉ vì được nói vào ngày đại hội ở Đại Lâm (Mahāvana), gần Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu). Bạn đừng nhầm với Kinh Đại Hội (DN 20) trong Trường Bộ: đó là một bài kinh khác, kể về chính cuộc hội họp của chư thiên hôm ấy, còn bài kinh này là phần hỏi đáp về đời sống người xuất gia. Chú giải kể: dòng Thích-ca (Sakya) và dòng Koliya tranh nhau nước sông Rohiṇī để tưới ruộng, hai bên dàn quân sắp đánh nhau; Đức Phật đến đứng giữa hai đạo quân và hòa giải. Cảm phục, mỗi bên cho hai trăm năm mươi thanh niên xuất gia theo Ngài, và năm trăm vị ấy về sau đều chứng quả A-la-hán. Vào một ngày Bố-tát, chư thiên từ mười ngàn thế giới về dự hội. Thấy trong hội chúng không ai đủ sức nêu câu hỏi thích hợp, Đức Phật dùng thần thông hóa ra một vị Phật để hỏi, rồi chính Ngài trả lời. Chú giải nói bài kinh này nói cho những vị có tâm tánh thiên về tham.
Câu trả lời đầu tiên rất đáng chú ý: ai đã nhổ tận gốc lòng tin vào điềm lành, điềm lạ, giấc mộng và tướng số, người ấy sẽ sống chân chánh ở đời (kệ 2.1–2.5). Theo chú giải, điềm lạ là những lời đoán như thấy sao băng, trời đỏ lửa thì sẽ có chuyện này chuyện kia; giấc mộng là tin rằng mộng lúc nào, nằm nghiêng bên nào, mộng thấy mặt trăng hay mặt trời thì báo điều gì; tướng số là học sách xem tướng cây gậy, tấm vải mà đoán. Chú giải còn nói: ngoài ba mươi tám điềm lành lớn đã nói trong Kinh Điềm Lành (Snp 2.4), những điềm khác đều thuộc về cái lỗi tin điềm. Các bài kệ tiếp nối: dẹp tham đối với các dục cõi người và cõi trời (kệ 3.1–3.4); bỏ lời đâm thọc, sân hận, keo kiệt, lìa cả chiều theo lẫn chống đối (kệ 4.1–4.4); được người lễ bái không tự cao, bị mắng nhiếc không ôm hận, được cúng dường không tự mãn (kệ 8.1–8.4); không theo phe nào giữa những người chia phe (kệ 13.2), mà chú giải giải là không theo các kiến chấp đang đối nghịch nhau; cho đến bậc lậu hoặc đã tận, mọi chỗ bám víu đều cạn (kệ 12.1–12.4, 16.1–16.4). Theo chú giải, các bài kệ đi dần lên và khép lại ở quả A-la-hán, và khi bài kinh dứt, vô số chư thiên chứng ngộ.
Bài kinh nói với người xuất gia, nhưng câu trả lời đầu tiên cũng nói với chúng ta. Nhiều gia đình người Việt vẫn chọn ngày, đoán mộng, xem tướng trước những việc lớn, phần nhiều vì thương nhau và mong điều tốt. Kinh không chê cười ai; kinh chỉ cho thấy người hiểu Pháp đặt sự an ổn vào việc làm của chính mình, không đặt vào điềm báo, như bài viết xem ngày, phong thủy đã bàn. Kinh Điềm Lành cũng đổi nghĩa chữ “điềm lành” thành những việc tốt ta tự tay làm. Chân dung vị Tỷ-kheo trong bài kinh, không oán người mắng mình, không tự mãn vì được cúng dường, cũng gặp lại trong Pháp Cú phẩm Tỷ-kheo. Lần tới khi định chọn ngày cho một việc quan trọng, bạn thử tự hỏi: việc này có ngay thẳng, có làm lợi cho người không? Nếu có, bạn đã có một khởi đầu tốt.
Ý chính
- Ai đã nhổ tận gốc lòng tin vào điềm lành, điềm lạ, giấc mộng và tướng số sẽ sống chân chánh ở đời (2.1–2.5).
- Dẹp bỏ lòng tham đối với các dục của loài người và cõi trời, vượt qua các cõi hữu (3.1–3.4).
- Bỏ lời đâm thọc, sân hận, keo kiệt; lìa cả chiều theo lẫn chống đối (4.1–4.4).
- Được lễ bái không tự cao, bị mắng nhiếc không oán giận, được cúng dường không tự mãn (8.1–8.4).
- Bậc trí không theo phe nào giữa những người chia phe, dẹp bỏ tham, sân và bực tức (13.1–13.4).
- Lậu hoặc đã đoạn, mọi chỗ bám víu đều cạn, vị ấy sống du hành chân chánh ở đời (16.1–16.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- paribbajati
- du hành, sống đời người xuất gia không nhà
- maṅgala
- điềm lành; ở đây là lòng tin vào các điềm báo
- uppāta
- điềm lạ, như sao băng, trời đỏ lửa
- supina
- giấc mộng
- lakkhaṇa
- tướng số, xem tướng mà đoán
- upadhi
- chỗ bám víu; theo chú giải ở đây là năm uẩn
- vaggasārī
- người theo phe; theo chú giải là theo các kiến chấp đối nghịch nhau
- aneja
- không còn dao động; theo chú giải là ái đã lặng
Kinh Du Hành Chân Chánh
1Người hỏi:
Tôi hỏi bậc ẩn sĩ,
Có trí tuệ rộng lớn,
Đã vượt qua bờ kia,
Tịch tịnh, tự an trú.
Làm sao một Tỷ-kheo,
Bỏ nhà, bỏ các dục,
Lại có thể chơn chánh
Du hành ở trên đời?“Pucchāmi muniṁ pahūtapaññaṁ, Tiṇṇaṁ pāraṅgataṁ parinibbutaṁ ṭhitattaṁ; Nikkhamma gharā panujja kāme, Kathaṁ bhikkhu sammā so loke paribbajeyya”.“I ask the sage abounding in wisdom— crossed-over, gone beyond, quenched, steadfast: when a mendicant has left home, casting aside sensuality, what’s the right way to wander the world?”
2Thế Tôn:
Ai nhổ lên điềm lành,
Như vậy, Thế Tôn đáp
Các sao băng mộng mị,
Và các tướng lành dữ,
Vị ấy đoạn trừ được,
Các lỗi lầm điềm lành;
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.“Yassa maṅgalā samūhatā, (iti bhagavā) Uppātā supinā ca lakkhaṇā ca; So maṅgaladosavippahīno, Sammā so loke paribbajeyya.“When they’ve eradicated superstitions,” said the Buddha, “about celestial portents, dreams, or bodily marks; with the stain of superstitions left behind, they’d rightly wander the world.
3Tỷ-kheo nhiếp phục tham,
Đối với các dục vọng,
Tại thiên giới, nhân giới,
Vượt hữu, chứng tri pháp;
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Rāgaṁ vinayetha mānusesu, Dibbesu kāmesu cāpi bhikkhu; Atikkamma bhavaṁ samecca dhammaṁ, Sammā so loke paribbajeyya.A mendicant ought dispel desire for pleasures human or heavenly; with rebirth transcended and truth comprehended, they’d rightly wander the world.
4Tỷ kheo bỏ hai lưỡi,
Bỏ phẩn nộ, xan tham,
Với tùy thuộc chống đối,
Đoạn tận thật hoàn toàn,
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Vipiṭṭhikatvāna pesuṇāni, Kodhaṁ kadarīyaṁ jaheyya bhikkhu; Anurodhavirodhavippahīno, Sammā so loke paribbajeyya.Putting backbiting behind them, a mendicant gives up anger and stinginess; with favoring and opposing left behind, they’d rightly wander the world.
5Sau khi đã từ bỏ,
Cả ái và phi ái,
Không chấp thủ một ai,
Không y chỉ chỗ nào,
Giải thoát được hoàn toàn
Các kiết sử trói buộc,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Hitvāna piyañca appiyañca, Anupādāya anissito kuhiñci; Saṁyojaniyehi vippamutto, Sammā so loke paribbajeyya.When the loved and the unloved are both left behind, not grasping or dependent on anything; freed from all things that fetter, they’d rightly wander the world.
6Ai không tìm lõi cây,
Đối với các sanh y,
Có thể nhiếp phục tham,
Đối với các chấp thủ,
Vị ấy không y chỉ,
Không để ai dắt dẫn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Na so upadhīsu sārameti, Ādānesu vineyya chandarāgaṁ; So anissito anaññaneyyo, Sammā so loke paribbajeyya.Finding no core in attachments, rid of desire for things they’ve acquired, independent, needing no one to guide them, they’d rightly wander the world.
7Với lời và với ý,
Và với cả nghiệp làm,
Không chống đối một ai,
Chơn chánh biết diệu pháp,
Thường cố gắng hướng đến,
Đường Niết bàn tịch tịnh,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Vacasā manasā ca kammunā ca, Aviruddho sammā viditvā dhammaṁ; Nibbānapadābhipatthayāno, Sammā so loke paribbajeyya.Not hostile in speech, mind, or deed, they’ve rightly understood the teaching. Aspiring to the state of extinguishment, they’d rightly wander the world.
8Tỷ-kheo không tự cao,
Khi người đảnh lễ mình,
Dầu có bị nhiếc mắng,
Không khởi tâm tức tối,
Được đồ ăn của người,
Không có sự tham đắm,
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Yo vandati manti nunnameyya, Akkuṭṭhopi na sandhiyetha bhikkhu; Laddhā parabhojanaṁ na majje, Sammā so loke paribbajeyya.Not gloating that, ‘they bow to me’; though reviled, they’d still stay in touch; not besotted when getting food from others, they’d rightly wander the world.
9Tỷ-kheo sau khi đoạn,
Tham dục và sanh hữu,
Từ bỏ, không làm hại,
Không trói buộc một ai,
Vị ấy vượt nghi hoặc,
Đã rút ra mũi tên,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Lobhañca bhavañca vippahāya, Virato chedanabandhanā ca bhikkhu; So tiṇṇakathaṅkatho visallo, Sammā so loke paribbajeyya.When greed and craving to live again are cast off, a mendicant refrains from violence and abduction; rid of indecision, free of thorns, they’d rightly wander the world.
10Tỷ-kheo sau khi biết,
Điều thích đáng cho mình,
Không làm hại một ai,
Có mặt ở trên đời,
Sau khi đã biết pháp
Như thật, như thế nào,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Sāruppaṁ attano viditvā, No ca bhikkhu hiṁseyya kañci loke; Yathātathiyaṁ viditvā dhammaṁ, Sammā so loke paribbajeyya.Knowing what is suitable for themselves, a mendicant would hurt no one in the world; understanding the teaching in line with the truth, they’d rightly wander the world.
11Với ai, các tuỳ miên,
Không còn có tồn tại,
Và cội gốc bất thiện,
Được nhổ lên tận trừ,
Vị ấy không tham dục,
Không có hy cầu gì.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Yassānusayā na santi keci, Mūlā ca akusalā samūhatāse; So nirāso anāsisāno, Sammā so loke paribbajeyya.They have no underlying tendencies at all, and are rid of unskillful roots; free of hope, with no need for hope, they’d rightly wander the world.
12Ai đoạn tận lậu hoặc,
Đoạn trừ cả kiêu mạn,
Mọi con đường tham dục,
Được chế ngự nhiếp phục,
Được nhiếp phục tịch tịnh,
Tự ngã được an lập,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Āsavakhīṇo pahīnamāno, Sabbaṁ rāgapathaṁ upātivatto; Danto parinibbuto ṭhitatto, Sammā so loke paribbajeyya.Defilements ended, conceit given up, beyond all manner of desire; tamed, quenched, and steadfast, they’d rightly wander the world.
13Có lòng tin, nghe pháp,
Thấy được quyết định tánh,
Bậc hiền không phe phái,
Giữa rất nhiều phe phái,
Có thể nhiếp phục được,
Tham, sân và hận thù,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Saddho sutavā niyāmadassī, Vaggagatesu na vaggasāri dhīro; Lobhaṁ dosaṁ vineyya paṭighaṁ, Sammā so loke paribbajeyya.Faithful, learned, seer of the sure path, an attentive one joins no faction among sects; rid of greed, hate, and aversion, they’d rightly wander the world.
14Thanh tịnh và chiến thắng,
Kéo lên màn che kín,
Tự tại trong các pháp,
Đến bờ kia, bất động,
Đoạn diệt các sở hành,
Thiện xảo trong chánh trí,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Saṁsuddhajino vivaṭṭacchado, Dhammesu vasī pāragū anejo; Saṅkhāranirodhañāṇakusalo, Sammā so loke paribbajeyya.A purified victor with veil cast off, among worldly things master, transcendent, stilled; expert in knowledge of conditions’ cessation, they’d rightly wander the world.
15Trong những thời quá khứ,
Trong những thời vị lai,
Vượt qua các chủ thuyết,
Trí tuệ thật thanh tịnh,
Với tất cả mọi xứ,
Được hoàn toàn giải thoát.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Atītesu anāgatesu cāpi, Kappātīto aticcasuddhipañño; Sabbāyatanehi vippamutto, Sammā so loke paribbajeyya.They’re over speculating on the future or past, and understand what it means to be pure; freed from all the sense fields, they’d rightly wander the world.
16Rõ biết được Pháp cú,
Chứng tri được Chánh pháp,
Thấy được sự mở rộng,
Đoạn tận các lậu hoặc,
Đối tất cả sanh y,
Được trừ diệt hoàn toàn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.Aññāya padaṁ samecca dhammaṁ, Vivaṭaṁ disvāna pahānamāsavānaṁ; Sabbupadhīnaṁ parikkhayāno, Sammā so loke paribbajeyya”.The state of peace is understood, the truth is comprehended, they’ve openly seen defilements cast off; and with the ending of all attachments, they’d rightly wander the world.”
17Người hỏi:
Bạch Thế Tôn, chắc chắn,
Thực sự là như vậy,
Tỷ-kheo được chế ngự,
Đã an trú như vậy,
Đã nhiếp phục hoàn toàn,
Tất cả các kiết sử,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.“Addhā hi bhagavā tatheva etaṁ, Yo so evaṁvihārī danto bhikkhu; Sabbasaṁyojanayogavītivatto, Sammā so loke paribbajeyyā”ti. Sammāparibbājanīyasuttaṁ terasamaṁ.“Clearly, Blessed One, it is just as you say. One who lives like this is a tamed mendicant, passed beyond all fetters and yokes: they’d rightly wander the world.”
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 2.13 (Sammāparibbājanīya Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 2.13 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.