Kinh Xuất Gia
Pabbajjā Sutta
Còn gọi là: Kinh Tập 3.1
Một vị vua đứng trên lầu cao nhìn thấy một người trẻ đi khất thực, mắt nhìn xuống, dáng đi đoan trang. Vua sai người theo, rồi tự mình lên núi, đem của cải và cả đoàn quân ra mời. Câu trả lời của Bồ-tát chỉ có mấy dòng.
Trước khi đọc kinh
Kinh Xuất Gia (Pabbajjā Sutta) là bài kinh mở đầu phẩm Lớn (Mahāvagga), phẩm thứ ba của Kinh Tập. Kinh kể những ngày đầu sau khi Đức Phật xuất gia, lúc Ngài còn là Bồ-tát (bodhisatta), người đang hướng đến giác ngộ. Theo chú giải Kinh Tập (Paramatthajotikā), người nói bài kinh là Ngài A-nan (Ānanda): khi Đức Phật ở Xá-vệ (Sāvatthī), Ngài A-nan nghĩ rằng chuyện xuất gia của các đại đệ tử như Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta) đã được kể, mà chuyện xuất gia của Đức Thế Tôn chưa ai kể, nên Ngài ngồi giữa chư Tỷ-kheo ở Kỳ Viên (Jetavana) mà kể lại. Mở đầu là lý do xuất gia: đời sống tại gia chật hẹp, là chỗ sinh ra bụi bặm; đời xuất gia như khoảng trời rộng mở (kệ 2.1–2.4). Chú giải giải “chật hẹp” là bị vợ con và phiền não bủa vây, không còn chỗ cho việc thiện. Xuất gia rồi, Ngài tránh việc ác nơi thân, lỗi lầm nơi lời nói, giữ đời sống trong sạch (kệ 3.1–3.4). Lời kinh gọi Ngài là bậc Giác Ngộ khi đến Vương Xá (Rājagaha) (kệ 4.1); chú giải nói lúc ấy Ngài chưa thành Phật, đây chỉ là lối nói quen, như ta nói “nhà vua sinh ra ở đây” về thời vị ấy chưa làm vua.
Chú giải kể: từ bờ sông Anomā, Bồ-tát đi bộ ba mươi do-tuần trong bảy ngày đến Vương Xá. Đứng ở cổng thành, Ngài nghĩ nếu báo cho vua Bình-sa (Bimbisāra) biết con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) đã đến thì sẽ được dâng nhiều vật dụng, mà điều đó không hợp với người xuất gia, nên Ngài lặng lẽ khất thực từng nhà. Vua Bình-sa đứng trên lầu cao trông thấy, khen người ấy đẹp đẽ, dáng đi đứng đoan trang, mắt nhìn xuống, có chánh niệm, không giống người xuất thân thấp kém, rồi sai sứ giả đi theo (kệ 5.1–7.4). Bát đầy rất nhanh (kệ 9.3); theo chú giải, vì Ngài tỉnh giác, nhận vừa đủ thì thôi. Bậc Mâu-ni lên núi Paṇḍava (kệ 10.2–10.4); chú giải nói Ngài hỏi người trong thành các vị xuất gia ở đâu, và được chỉ đến sườn núi phía đông. Nghe sứ giả tâu Ngài ngồi như cọp, như sư tử trong hang núi, vua đi xe rồi đi bộ đến, khen Ngài trẻ trung, khôi ngô như một vị Sát-đế-lỵ (khattiya) dòng cao quý, và mời Ngài nhận của cải, đứng đầu đoàn quân có voi đi theo (kệ 12.1–17.4); chú giải nói vua mời Ngài nhận của cải ở xứ Aṅga và Ma-kiệt-đà (Magadha) bao nhiêu tùy ý. Bồ-tát đáp: tôi thuộc dòng Mặt Trời, dòng dõi Thích-ca, ở bên sườn Tuyết Sơn (Himavanta); tôi xuất gia, không cầu các dục; thấy dục có nguy hại, thấy xuất ly là chốn an ổn, tôi sẽ đi để tinh cần (kệ 18.1–20.4).
Chú giải kể tiếp: vua nói đã từng nghe con vua Tịnh Phạn sẽ xuất gia và thành Phật, và xin Ngài khi thành Phật thì đến xứ của vua trước tiên. Câu cuối của Bồ-tát, “tôi sẽ đi để tinh cần”, nối thẳng sang Kinh Tinh Cần (Snp 3.2); những ngày tìm thầy học đạo sau đó được chính Đức Phật kể trong Kinh Thánh Cầu (MN 26). Lời từ chối của Bồ-tát là một hình ảnh đẹp của Ba-la-mật xuất ly: không phải vì chê của cải, mà vì đã thấy rõ điều mình thật sự tìm. Bạn không cần rời nhà mới tập được xuất ly. Lần tới khi có ai mời bạn một điều hấp dẫn mà bạn biết mình không cần, bạn thử nhớ câu trả lời ở núi Paṇḍava và nhẹ nhàng từ chối.
Ý chính
- Đời tại gia chật hẹp, là chỗ sinh bụi bặm; đời xuất gia như khoảng trời rộng mở (2.1–2.4).
- Đã xuất gia, Ngài tránh việc ác nơi thân, lỗi lầm nơi lời nói, giữ đời sống trong sạch (3.1–3.4).
- Vua Bình-sa thấy Ngài khất thực, mắt nhìn xuống, có chánh niệm, liền sai người đi theo (5.1–7.4).
- Các căn được giữ gìn, tỉnh giác và chánh niệm, bát đầy rất nhanh (9.1–9.4).
- Nhà vua mời Ngài nhận của cải, đứng đầu đoàn quân, và hỏi về dòng dõi (16.1–17.4).
- Thấy dục có nguy hại, thấy xuất ly là an ổn, Ngài đi để tinh cần (20.1–20.4).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- pabbajjā
- sự xuất gia, rời nhà sống đời không gia đình
- cakkhumā
- bậc có mắt; theo chú giải là bậc đủ năm loại mắt
- sambādha
- chật hẹp, bị bủa vây
- abbhokāsa
- khoảng trời rộng mở
- lakkhaṇa
- tướng tốt của bậc đại nhân
- sapadāna
- khất thực theo thứ tự từng nhà, không chọn nhà
- nekkhamma
- xuất ly, rời bỏ các dục
- padhāna
- sự tinh cần, nỗ lực hết sức
Kinh Xuất Gia
1Ananda:
Xuất gia, tôi tán thán,
Như Pháp nhãn xuất gia,
Sau khi Ngài quán sát,
Chấp thuận hạnh xuất gia.“Pabbajjaṁ kittayissāmi, yathā pabbaji cakkhumā; Yathā vīmaṁsamāno so, pabbajjaṁ samarocayi.“I shall extol going forth with the example of the Clear-eyed One, the course of inquiry that led to his choice to go forth.
2406.Trói buộc, sống gia đình,
Tụ hội mọi bụi đời,
Phóng khoáng, đời xuất gia,
Thấy vậy nên xuất gia.Sambādhoyaṁ gharāvāso, rajassāyatanaṁ iti; Abbhokāsova pabbajjā, iti disvāna pabbaji.‘This life at home is cramped, a realm of dirt.’ ‘The life of one gone forth is like an open space.’ Seeing this, he went forth.
3Sau khi Ngài xuất gia,
Thân ác nghiệp Ngài tránh,
Từ bỏ lời nói ác,
Mạng sống Ngài thanh tịnh.Pabbajitvāna kāyena, pāpakammaṁ vivajjayi; Vacīduccaritaṁ hitvā, ājīvaṁ parisodhayi.Having gone forth, he shunned bad deeds of body. And leaving verbal misconduct behind, he purified his livelihood.
4Phật đi đến Vương Xá,
Đến chỗ núi bao vây,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Ngài sống hạnh khất sĩ,
Mang theo thật đầy đủ,
Các tướng tốt quang minh.Agamā rājagahaṁ buddho, magadhānaṁ giribbajaṁ; Piṇḍāya abhihāresi, ākiṇṇavaralakkhaṇo”.The Buddha went to Rājagaha, the Mountainfold of the Magadhans. He betook himself for alms, replete with excellent marks.
5Bình Sa vương thấy Ngài,
Đứng trên sân lầu thượng,
Thấy đầy đủ tướng tốt,
Bèn nói lên lời này:Tamaddasā bimbisāro, pāsādasmiṁ patiṭṭhito; Disvā lakkhaṇasampannaṁ, imamatthaṁ abhāsatha.Bimbisāra saw him while standing atop his longhouse. Noticing that he was endowed with marks, he said the following:
6Các Ông hãy chăm sóc
Người đẹp, lớn, thanh tịnh,
Thành tựu với hạnh đức,
Chỉ nhìn vừa một tầm.“Imaṁ bhonto nisāmetha, abhirūpo brahā suci; Caraṇena ca sampanno, yugamattañca pekkhati.‘Pay heed, sirs, to this one, handsome, majestic, radiant; accomplished in deportment, he looks just a plough’s length in front.
7Mắt nhìn xuống, chánh niệm,
Gia đình không hạ tiện,
Hãy cho sứ giả theo,
Tỷ-kheo sẽ đi đâu?Okkhittacakkhu satimā, nāyaṁ nīcakulāmiva; Rājadūtābhidhāvantu, kuhiṁ bhikkhu gamissati”.Eyes downcast, mindful, unlike one from a low family. Let the king’s messengers run out, and find where the mendicant will go.’
8Được sai, sứ giả ấy
Đi theo sau lưng Ngài,
Tỷ-kheo sẽ đi đâu?
Trú xứ sẽ chỗ nào?Te pesitā rājadūtā, piṭṭhito anubandhisuṁ; Kuhiṁ gamissati bhikkhu, kattha vāso bhavissati.The messengers sent out followed right behind, thinking ‘Where will the mendicant go? Where shall he find a place to stay?’
9Khất thực, từng nhà một,
Căn hộ trì chế ngự,
Bình bát được mau đầy,
Tỉnh giác và chánh niệm.Sapadānaṁ caramāno, guttadvāro susaṁvuto; Khippaṁ pattaṁ apūresi, sampajāno paṭissato.Wandering indiscriminately for alms, sense doors guarded and well restrained, aware and mindful, his bowl was quickly filled.
10Sau khi đi khất thực,
Ẩn sĩ ra khỏi thành,
Leo lên Pandava,
Sẽ trú xứ tại đấy.Piṇḍacāraṁ caritvāna, Nikkhamma nagarā muni; Paṇḍavaṁ abhihāresi, Ettha vāso bhavissati.Having wandered for alms, the sage left the city. He betook himself to Mount Paṇḍava, thinking, ‘Here is the place I shall stay.’
11Thấy vị ấy đến chỗ,
Các sứ giả ngồi chờ,
Còn một vị đi về,
Kể lại chuyện vua hay.Disvāna vāsūpagataṁ, Tayo dūtā upāvisuṁ; Tesu ekova āgantvā, Rājino paṭivedayi.Seeing that he had arrived at a place to stay, the messengers withdrew nearby, but one of them returned to inform the king.
12Đại vương, Tỷ-kheo ấy,
Phía đông Pandava,
Ngồi như cọp, bò chúa,
Như sư tử trong hang.“Esa bhikkhu mahārāja, Paṇḍavassa puratthato; Nisinno byagghusabhova, Sīhova girigabbhare”.‘Great king, the mendicant is on the east flank of Mount Paṇḍava. There he sits, like a tiger or a bull, like a lion in a mountain cave.’
13Nghe sứ giả, đức vua
Với cỗ xe thù thắng,
Vội vàng ra khỏi thành,
Đi đến Pandava.Sutvāna dūtavacanaṁ, Bhaddayānena khattiyo; Taramānarūpo niyyāsi, Yena paṇḍavapabbato.Hearing the messenger’s report, the aristocrat set out hurriedly in his fine chariot toward Mount Paṇḍava.
14Đi được, vua đi xe,
Rồi xuống xe đi bộ,
Đức vua tiến lại gần,
Và vào chỗ Ngài ở.Sa yānabhūmiṁ yāyitvā, Yānā oruyha khattiyo; Pattiko upasaṅkamma, Āsajja naṁ upāvisi.He went as far as vehicles could go, then dismounted from his chariot, approached on foot, and reaching him, drew near.
15Ngồi xuống, vua nói lên
Lời hỏi thăm chào đón,
Lời lẽ chào đón xong,
Vua nói lên nghĩa này.Nisajja rājā sammodi, Kathaṁ sāraṇīyaṁ tato; Kathaṁ so vītisāretvā, Imamatthaṁ abhāsatha.Seated, the king greeted him and made polite conversation. When the courtesies were over, he said the following:
16Người thanh niên tuổi trẻ,
Ngây thơ, bước vào đời,
Đẹp cao được đầy đủ,
Thiện sanh dòng Sát-ly.“Yuvā ca daharo cāsi, Paṭhamuppattiko susu; Vaṇṇārohena sampanno, Jātimā viya khattiyo.‘You are young, just a youth, a lad in the prime of life. You are endowed with beauty and stature, like an aristocrat of good birth
17–18Trang hoàng binh đội ngũ,
Trước mắt cả binh đoàn,
Tài sản ta cho Người,
Hãy hưởng và trả lời
Về vấn đề thọ sanh.
Thế Tôn:
Trên sườn núi Tuyết sơn,
Sống dân tộc đoạn trực,
Tài sản nghị lực đủ,
Ở xứ Kosala.Sobhayanto anīkaggaṁ, Nāgasaṅghapurakkhato; Dadāmi bhoge bhuñjassu, Jātiṁ akkhāhi pucchito”. “Ujuṁ janapado rāja, Himavantassa passato; Dhanaviriyena sampanno, Kosalesu niketino.in glory at the army’s head, surrounded by a troop of elephants. I offer you pleasures—enjoy them! But please tell me of your birth.’ ‘Up north, O King, on the slopes of the Himalayas, full of wealth and strength, lies the land of one whose abode is among the Kosalans.
19Dòng họ thuộc mặt trời,
Sanh tộc là Thích-ca,
Từ bỏ gia tộc ấy,
Thưa vua, Ta xuất gia,
Ta không có tha thiết,
Đối với các loại dục.Ādiccā nāma gottena, Sākiyā nāma jātiyā; Tamhā kulā pabbajitomhi, Na kāme abhipatthayaṁ.Their clan is named for the Sun, they are Sakyans by birth. I have gone forth from that family— I do not yearn for sensual pleasure.
20Thấy nguy hiểm trong dục,
Bỏ chúng, là an ổn,
Ta sẽ đi, tinh tấn,
Ý Ta, được hoan hỷ.Kāmesvādīnavaṁ disvā, Nekkhammaṁ daṭṭhu khemato; Padhānāya gamissāmi, Ettha me rañjatī mano”ti. Pabbajjāsuttaṁ paṭhamaṁ.Seeing the danger in sensual pleasures, seeing renunciation as sanctuary, I shall go on to strive; that is where my mind delights.’”
Viết bởi Chánh Tín
Nguồn trích dẫn
- Kinh Tập 3.1 (Pabbajjā Sutta). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Snp 3.1 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (Đại Tạng Kinh Việt Nam, Tiểu Bộ Kinh tập I; bản trên BuddhaSasana, budsas.org). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.