Chú giải Pháp Cú · Kệ 135 · Dhp 135

Tích Bát Quan Trai Của Phụ Nữ

Uposathikaitthīnaṃ vatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 135 Kinh Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 135)

“Yathā daṇḍena gopālo,
Gāvo pājeti gocaraṃ;
Evaṃ jarā ca maccu1 ca,
Āyuṃ pājenti pāṇinaṃ.”

“Với gậy người chăn bò,
Lùa bò ra bãi cỏ,
Cũng vậy, già và chết,
Lùa người đến mạng chung.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết, khi Ngài ngự an tại Pubbārāma (Đông Phương Tự), đề cập đến Giới Bát quan của các Tín nữ, nhất là bà Visākhā (Thiện Chi).

Tương truyền rằng: Trong một ngày Giới Bát quan nọ, năm trăm phụ nữ thọ Giới Bát quan rồi mới đi chùa. Bà Visākhā đến gần các phụ nữ cao niên trong nhóm ấy và hỏi:

- Thưa các bà, các bà giữ Giới Bát quan để làm gì?

Họ đáp: “Nguyện cho tôi được hưởng phước chư Thiên.”.

Bà Visākhā lại hỏi các phụ nữ trung niên, các phụ nữ nầy đáp: “Để thoát khỏi cảnh chồng chung2.”

Bà Visākhā lại hỏi tiếp các thiếu phụ, các cô đáp: “Để được sanh con đầu lòng.” 1 .Maccū (theo bản Pāḷi của CSCD/Dhammagiri. India). 2 . Sapattivāsā: Cảnh sống chung hai vợ một chồng. Ông Burlingame dịch là quyền hạn của chồng “The power of our husbands.”.

Nghe vậy, bà Visākhā lại hỏi tiếp các thiếu nữ, các cô đáp: “Để sớm được về làm dâu gia đình tử tế.”.

Sau khi nghe lời nguyện ước của tất cả phụ nữ, bà Visākhā dắt họ đi yết kiến Đức Bổn Sư và tuần tự kể lại những lời họ đã nói cho bà nghe. Nghe xong câu chuyện, Đức Bổn Sư dạy rằng:

- Nầy Visākhā! Những chúng sanh hằng bị tứ khổ nhất là sự sanh, như kẻ chăn bò tay cầm gậy lùa đi từ sanh đến lão, từ lão đến bịnh, từ bịnh đến tử, để cho sự tử như búa bén chặt đứt mạng sống. Mặc dầu vậy, họ không nguyện giảm bớt sự sanh bao giờ cả, mà chỉ nguyện tăng thêm luôn luôn.

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và ngâm lên kệ ngôn rằng:

“Yathā daṇḍena gopālo,
Gāvo pājeti gocaraṃ;
Evaṃ jarā ca maccu ca,
Āyuṃ pājenti pāṇinaṃ.”
Như với chiếc gậy, người chăn trâu xua trâu ra

đồng, sự già chết cũng thế, thường xua chúng sanh đến tử vong

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Pājeti: người chăn bò khôn khéo dùng gậy ngăn chận không cho bầy bò xâm phạm chỗ đất có trồng hoa màu, lùa chúng đi tới chỗ đồng trống có nhiều cỏ và nước uống.

Āyuṃ pājenti: cắt đứt, làm hao mòn mạng căn. Quả vậy, lão và tử ví như đồng cỏ. Nơi đây, bao giờ sự sanh cũng đưa mạng căn của chúng sanh đến sự già, sự già đưa đến sự bịnh và sự bịnh đưa đến sự chết. Đến mức nầy sự tử vong, như tử thần cầm chiếc búa bén chặt đứt mạng căn. Đây là cách nói ví dụ để đối chiếu.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ khưu chứng Thánh quả, nhất là quả Tu Đà Hườn.

Năm trăm Tín nữ, bạn Visākhā,
Giữ giới Bát quan, nguyện phước gì?
Các cụ già mong: Khi tạ thế,
Lên trời hưởng lộc, sống quang huy!
Các bà đứng tuổi sợ chồng chung:
“Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”!
Thiếu phụ ước sanh trai trưởng tử,
Để làm nữ chủ tại gia trung.
Thiếu nữ thì mơ được tấm chồng,
Con nhà tử tế, khỏi long đong…
Không ai nguyện thoát luân hồi khổ,
Mong khỏi sanh, già, bịnh, tử vong…

DỨT TÍCH BÁT QUAN TRAI CỦA PHỤ NỮ

Uposathikaitthīnaṃ vatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Yathā daṇḍenāti imaṃ dhammadesanaṃ satthā pubbārāme viharanto visākhādīnaṃ upāsikānaṃ uposathakammaṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthiyaṃ kira ekasmiṃ mahāuposathadivase pañcasatamattā itthiyo uposathikā hutvā vihāraṃ agamiṃsu. Visākhā tāsu mahallakitthiyo upasaṅkamitvā pucchi, “ammā, kimatthaṃ uposathikā jātatthā”ti. Tāhi “dibbasampattiṃ patthetvā”ti vutte majjhimitthiyo pucchi, tāhi “sapattivāsā muccanatthāyā”ti vutte taruṇitthiyo pucchi, tāhi “paṭhamagabbhe puttapaṭilābhatthāyā”ti vutte kumārikāyo pucchi, tāhi “taruṇabhāveyeva patikulagamanatthāyā”ti vutte taṃ sabbampi tāsaṃ kathaṃ sutvā tā ādāya satthu santikaṃ gantvā paṭipāṭiyā ārocesi. Taṃ sutvā satthā “visākhe imesaṃ sattānaṃ jātiādayo nāma daṇḍahatthakagopālakasadisā, jāti jarāya santikaṃ, jarā byādhino santikaṃ, byādhi maraṇassa santikaṃ pesetvā maraṇaṃ kuṭhāriyā chindantā viya jīvitaṃ chindati, evaṃ santepi vivaṭṭaṃ patthentā nāma natthi, vaṭṭameva pana patthentī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Yathā daṇḍena gopālo, gāvo pājeti gocaraṃ;
Evaṃ jarā ca maccu ca, āyuṃ pājenti pāṇina”nti.

Tattha pājetīti cheko gopālo kedārantaraṃ pavisantiyo gāvo daṇḍena nivāretvā teneva pothento sulabhatiṇodakaṃ gocaraṃ neti. Āyuṃ pājentīti jīvitindriyaṃ chindanti khepenti. Gopālako viya hi jarā ca maccu ca, gogaṇo viya jīvitindriyaṃ, gocarabhūmi viya maraṇaṃ. Tattha jāti tāva sattānaṃ jīvitindriyaṃ jarāya santikaṃ pesesi, jarā byādhino santikaṃ, byādhi maraṇassa santikaṃ. Tameva maraṇaṃ kuṭhāriyā chedaṃ viya chinditvā gacchatīti idamettha opammasampaṭipādanaṃ.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Uposathikaitthīnaṃ vatthu pañcamaṃ.

X. 5. Visākhā and her Companions keep Fast-Day

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

135. As with a staff...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Pubbārāma with reference to the manner in which Fast-day was kept by Visākhā and her female lay disciples.

At Sāvatthi, we are told, on a certain great Fast-day, five hundred women took upon themselves the obligations of Fast-day and went to the monastery. Visākhā approached the oldest women of the company and asked, “Women, for what purpose have you assumed the obligations of Fast-day?” They replied, “Because we seek a heavenly reward.” When she put the question to the women who had reached middle life, they replied, “To obtain release from the power of our husbands.” When she asked the young women, they replied, “That we may conceive a child as soon as possible.” Finally she asked the maidens, who replied, “That we may obtain husbands while we are still young.”

When Visākhā had heard the replies of all, she then went to the Teacher, taking the women with her, and told him each of the replies in order. The Teacher listened to the replies and then said, “Visākhā, in the case of living beings here in the world, birth, old age, sickness, and death are like cowherds with staves in their hands. Birth sends them to old age, and old age to sickness, and sickness to death; they cut life short as though they cut with an axe. But despite this, there are none that desire absence of rebirth; rebirth is all they desire.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,

135. As with a staff a cowherd drives his cows to pasture,
Even so old age and death drive the life of living beings.

  1. Text: N iii. 58-60.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề