Đời sống

Giữ bát quan trai giới: một ngày một đêm học theo bậc A-la-hán

Bát quan trai không phải một cuộc nhịn ăn để lấy phước. Theo lời kinh, đó là một ngày một đêm người tại gia tự nguyện sống giản dị, trong sạch, “học theo các bậc A-la-hán”.

Tóm lại: Bát quan trai giới (aṭṭhaṅga uposatha) là tám chi phần người tại gia thọ trì trong một ngày một đêm. Theo Tăng Chi Bộ 8.41, mỗi chi phần là một cách “học theo các bậc A-la-hán”. Tăng Chi Bộ 3.70 thêm một điều quan trọng: ngày trai giới đúng nghĩa không chỉ là kiêng ăn, mà là ngày làm sạch tâm.

Tám chi phần, học theo bậc A-la-hán

Trong Kinh Bát Quan Trai, lược thuyết, Đức Phật dạy vị Thánh đệ tử giữ trai giới suy xét như sau với từng chi phần. Chi phần thứ nhất:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành trai giới “.

Tăng Chi Bộ 8.41, đoạn 2.4–2.6

Bảy chi phần còn lại theo cùng một khuôn (AN 8.41, đoạn 3.1–9.4): không lấy của không cho; sống phạm hạnh, không hành dục; không nói dối; tránh các chất say; chỉ ăn một bữa, không ăn ban đêm, tránh ăn sai thời (đoạn 7.1); tránh xem ca múa, nhạc kịch và không đeo vòng hoa, dùng hương thơm, trang sức; không nằm giường cao rộng lớn, chỉ nằm chỗ thấp như giường nhỏ hay chiếu cỏ.

So với năm giới hằng ngày, giới thứ ba được nâng lên thành phạm hạnh trọn vẹn, và có thêm ba chi phần giúp đời sống giản dị lại. Kinh nói ngày trai giới giữ như vậy thì “đem lại quả lớn, lợi ích lớn, ánh sáng lớn, sức lan tỏa lớn” (AN 8.41, đoạn 10.1).

Ba kiểu ngày trai giới

Một hôm bà Visākhā đến gặp Đức Phật giữa ngày và nói bà đang giữ trai giới. Đức Phật kể ra ba kiểu trai giới. Kiểu thứ nhất là trai giới của người chăn bò:

Cũng vậy, này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ: “Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta đã ăn; ta đã ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này ta đã ăn. Ngày mai, ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta sẽ ăn; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này ta sẽ ăn”. Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục.

Tăng Chi Bộ 3.70, đoạn 2.9–2.11

Người ấy có kiêng ăn, nhưng tâm cứ quanh quẩn với món ăn. Kiểu thứ hai Ngài gọi là trai giới của phái Nigaṇṭha, giữ hình thức mà lời nói lại trái sự thật (đoạn 3.1–3.29). Kiểu thứ ba là trai giới của bậc Thánh: “tâm cấu uế được làm sạch nhờ nỗ lực” (đoạn 4.2). Người giữ giới tùy niệm Phật, Pháp, Tăng (chính là các đoạn Ân đức trong bài Tụng kinh mỗi ngày), giới hạnh của mình và các phẩm chất đưa chư thiên đến cõi lành; nhờ đó tâm được tịnh tín, hân hoan sinh khởi, cấu uế được đoạn trừ, như gội đầu, tắm thân, giặt áo, lau gương, luyện vàng (đoạn 4.4–18.11). Sau đó mới đến tám chi phần (đoạn 19.1–26.3).

Đức Phật còn nói: dù làm vua mười sáu nước lớn đầy châu báu, cũng không bằng một phần mười sáu của ngày trai giới tám chi phần (AN 3.70, đoạn 28.2–28.3). Đây là cách nói để thấy giá trị của một ngày sống trong sạch, không phải lời hứa đổi chác.

Giữ vào ngày nào

Tăng Chi Bộ 3.37 kể rằng vào ngày mồng 8 của nửa tháng, các vị quan của Tứ Đại Thiên Vương, vào ngày 14 là các vị hoàng tử, và vào ngày 15 là chính bốn vị Thiên Vương, đi khắp thế gian xem có nhiều người hiếu kính cha mẹ, giữ trai giới, làm phước không (AN 3.37, đoạn 1.1–1.6). Theo truyền thống, các chùa Nam truyền thường giữ vào ngày trăng tròn, trăng mới và hai ngày bán nguyệt.

Về giờ ăn: kinh chỉ nói “chỉ ăn một bữa, không ăn ban đêm, tránh ăn sai thời” (vikālabhojana). Cách hiểu “sai thời” là từ quá trưa, lúc mặt trời đứng bóng, cho đến rạng đông hôm sau là định nghĩa của Luật tạng dành cho người xuất gia, được truyền thống áp dụng cho người giữ bát quan trai. Cũng theo truyền thống, “một bữa” được hiểu là dùng thức ăn trong buổi sáng và xong trước giờ ngọ, nên nhiều người dùng điểm tâm nhẹ rồi bữa trưa sớm. Sau giờ ngọ, các thức uống như nước lọc, nước trái cây lọc bã thường được dùng theo hướng dẫn của chùa.

Một ngày giữ giới cụ thể

Thử hình dung một người chọn giữ bát quan trai vào một ngày Chủ nhật. Sáng sớm, họ đến chùa thọ giới với chư Tăng, hoặc ở nhà tự đọc lời thọ trì trước bàn thờ Phật sau khi quy y Tam Bảo; theo truyền thống, cả hai cách đều được. Theo cách giữ truyền thống, họ dùng bữa trong buổi sáng và xong trước giờ ngọ, buổi chiều chỉ dùng nước uống. Điện thoại tắt mạng xã hội, không xem phim, không nghe nhạc. Họ dành buổi chiều đọc kinh, ngồi thiền, giúp việc chùa. Tối ngủ trên chiếu mỏng. Sáng hôm sau xả giới, trở lại đời thường.

Người đang bệnh, đang mang thai hay cần dùng thuốc theo giờ nên hỏi ý thầy và thầy thuốc, giữ những chi phần mình giữ được. Giới là để tâm nhẹ nhàng, không phải để thân kiệt sức.

Một gợi ý nhỏ

Nếu chưa từng giữ, bạn thử bắt đầu với nửa ngày: từ trưa đến tối, không ăn thêm, không giải trí, lời nói chân thật, và đọc chậm từng chi phần trong Kinh AN 8.41. Cuối ngày, hãy ngồi yên và nhìn lại: tâm hôm nay có khác ngày thường không.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 8.41, Kinh Bát Quan Trai, lược thuyết (Saṅkhittūposatha Sutta), AN 8.41 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 3.70, Kinh Ngày Trai Giới (Uposatha Sutta), AN 3.70 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 3.37, Kinh Bốn Đại Thiên Vương, AN 3.37 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 8.39, Kinh Nguồn Phước, AN 8.39 trên SuttaCentral.
  5. Tiểu Tụng 1, Tam Quy, Khp 1 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  7. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh