Chú giải Pháp Cú · Kệ 133–134 · Dhp 133–134

Tích Trưởng Lão Kon Đá Tha Ná

Koṇḍadhānattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 133–134 Kinh Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 133-134)

133. “Māvoca pharusaṃ kañci,
Vuttā paṭivadeyyu taṃ;
Dukkhā hi sārambhakathā,
Paṭidaṇḍā phuseyyu taṃ.”
“Chớ nói lời ác độc,
Nói ác, bị nói lại,
Khổ thay lời phẫn nộ,
Đao trượng phản chạm người.”
134. “Sace neresi attānaṃ,
Kaṃso upahato yathā;
Esa pattosi nibbānaṃ,
Sārambho te na vijjati.”
“Nếu tự mình yên lặng,
Như chiếc chuông bị bể,
Ngươi đã chứng Níp Bàn,
Người không còn phẫn nộ.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến Trưởng lão Koṇḍadhāna (Kon Đá Tha Ná).

Tương truyền rằng: Kể từ ngày xuất gia về sau, Trưởng lão đi đâu cũng có một hình bóng người phụ nữ đi theo sau lưng cả. Chính Trưởng lão thì không thấy bóng phụ nữ ấy, nhưng đại chúng đều thấy.

Khi Trưởng lão vào làng khất thực, mọi người để bát một phần ăn xong, lại đặt thêm một phần nữa, nói rằng: “Bạch Ngài, đây là phần của Ngài, và đây là phần của cô bạn Ngài.”.

Thử hỏi: Trưởng lão đã tạo nghiệp gì trong quá khứ?

Đức Bổn Sư đã giải rằng:

Trong thời của Đức Phật Kassapa (Ca Diếp), có hai vị Tỳ khưu hết sức hòa thuận cùng nhau, chẳng khác nào hai anh em ruột cùng một mẹ sanh đôi. Suốt thời gian trường thọ của Đức Cổ Phật, cứ đúng một năm hoặc sáu tháng chư Tăng lại nhóm họp một lần để làm lễ Phát (Sám hối chung). Bởi thế, hai vị rủ nhau: “Chúng ta đi về chùa dự lễ Phát lồ”, rồi từ chỗ ngụ ra đi.

Một vị chư Thiên mới sanh lên cõi trời Đao Lợi nhìn xuống thấy hai vị nầy, nghĩ thầm rằng: “Hai Tỳ khưu nầy hòa thuận với nhau quá! Có thể nào ly gián hai ông nầy được chăng?”.

Trong lúc vị chư Thiên ngu muội nầy đang nghĩ quấy như vậy, thì một trong hai vị Tỳ khưu bảo bạn rằng:

- Nầy đạo hữu hãy đi thủng thẳng, chờ tôi đi đại một chút.

Nghe vậy, vị chư Thiên hóa hình thành một phụ nữ đi theo vị Trưởng lão vào trong bụi rậm, đến khi trở ra chỗ trống thì một tay bới lại đầu tóc, một tay vận lại y hạ, đi theo sau lưng vị Trưởng lão mà vị nầy không hay biết.

Trong khi vị nầy đi ra thì vị Tỳ khưu đứng ngoài quay lại nhìn thấy một người nữ đi ra với dáng điệu khả nghi như vậy. Người nầy biết rằng vị Tỳ khưu đã nhìn thấy mình rồi, liền biến mất.

Vị Tỳ khưu ở ngoài chờ bạn ra đi đến gần mình rồi, bèn hỏi:

- Nầy đạo hữu! Đạo hữu đứt Giới rồi phải chăng?

- Không bao giờ tôi phá Giới đâu đạo hữu?

- Bây giờ, chính mắt tôi thấy, từ phía sau đạo hữu đi ra một thiếu phụ dáng điệu như vậy, mà đạo hữu còn chối, nói: “Tôi không có như thế hay sao?”.

Như bị sét đánh lên đầu, vì bị cáo oan không thể nhẫn nại, bèn cãi lại:

- Đạo hữu đừng phá hại tôi, quả tôi không có như thế mà!

Vị kia cứ nhất quyết:

- Chính mắt tôi trông thấy, tôi tin đạo hữu thế nào được?

Nói rồi, như người bẻ gãy cây gậy, vị ấy bỏ đi tự bảo mình rằng: “Dầu đến chỗ làm lễ Phát lồ, ta cũng sẽ không ngồi sám hối chung với Tỳ khưu nầy.”.

Vị Tỳ khưu bị tình nghi thanh minh với chư Tăng rằng:

- Bạch các Ngài, tôi không có một chút lỗi nào, dầu nhỏ như hột mè.

Còn vị Tỳ khưu bạn thì vẫn đề quyết: “Chính mắt tôi trông thấy.”.

Thấy hai vị Tỳ khưu bạn không chịu làm lễ Phát lồ chung, vị chư Thiên nghĩ rằng: “Ôi nặng thay là nghiệp của ta tạo!”. Vị chư Thiên bèn ứng tiếng lên hòa giải:

- Bạch các Ngài, vị Trưởng lão của chúng tôi không đứt Giới, đây chỉ là một việc làm của tôi để thử lòng các Ngài đó thôi. Vậy các Ngài cứ làm lễ Phát lồ chung với vị Trưởng lão đi.

Khi ấy, vị chư Thiên đứng giữa hư không nói xuống, làm các Tỳ khưu phát sanh đức tin và làm lễ Phát lồ chung với nhau. Tuy nhiên, vị Tỳ khưu không còn giữ được lòng dịu hòa như trước nữa. Đó là tiền nghiệp của vị chư Thiên.

Đến khi mãn tuổi thọ, hai vị Trưởng lão tùy theo phước nghiệp được sanh lên cõi Trời. Còn vị chư Thiên bị đọa xuống A Tỳ Địa ngục suốt thời gian không có Phật, chịu sự thiêu đốt nơi Địa ngục đó cho đến thời Đức Phật hiện tại, được tái sanh làm người trong thành Xá Vệ, đến tuổi trưởng thành xuất gia trong Phật Pháp và được thọ Cụ túc giới. Từ ngày xuất gia về sau, một bóng hình phụ nữ thường xuất hiện lên sau lưng Tỳ khưu nầy. Do đó vị nầy được mệnh danh là Koṇḍadhāna (Kon Đá Tha Ná).

Thấy vị nầy có hiện tượng như vậy, chư Tăng đốc xúi Bá hộ Cấp Cô Độc:

- Nầy Bá hộ, vị nầy phá giới, ông hãy đuổi ra khỏi chùa đi, để vị nầy ở chung với chư Tăng, sẽ mang tiếng xấu hết!

Bá hộ Cấp Cô Độc hỏi:
- Bạch các Ngài, có chuyện gì đây? Đức Bổn Sư

không có trong chùa ư?

- Có, ông Bá hộ à!

- Vậy thì bạch các Ngài, Đức Bổn Sư sẽ biết rõ việc nầy!

Các Tỳ khưu đi mách với bà Thiện Chi. Bà cũng từ chối không làm theo lời đề nghị của chư Tăng.

Các Tỳ khưu không được hai vị đại thí chủ chấp thuận lời mình, liền báo lên Đức vua.

- Tâu Đại vương! Tỳ khưu Koṇḍadhāna đi đâu cũng dắt theo một phụ nữ, làm cho tất cả chư Tăng mang tiếng xấu chung, xin Đại vương hãy thắng phục và đuổi vị ấy đi!

- Bạch các Ngài, vị ấy hiện ở đâu?

- Tâu Đại vương, vị ấy ở trong chùa.

- Trong chỗ ngụ nào trong chùa?

- Trong cốc tên đó.

- Nếu vậy, các Ngài hãy đi, trẫm sẽ cho người bắt vị ấy.

Buổi xế chiều, Đức vua ngự đến chùa, cho binh lính bao vây chỗ ngụ chư Tăng đã chỉ, rồi đi thẳng đến trước cốc của Trưởng lão Koṇḍadhāna.

Nghe tiếng ồn ào, Trưởng lão đi ra khỏi chùa đứng sát trước sân cốc. Đức vua nhìn thấy thấp thoáng bóng một phụ nữ đứng sau lưng Trưởng lão.

Trưởng lão biết có Đức vua ngự đến, bèn leo lên ngồi trên chùa. Đức vua không đảnh lễ Trưởng lão, nhưng đến gần thì không thấy bóng phụ nữ đâu cả. Đức vua nhìn qua cửa lớn, nhìn xuống gầm giường cũng không thấy, bèn nói với Trưởng lão rằng:

- Bạch Ngài, trong chỗ nầy, trẫm có thấy một phụ nữ, cô ta ở đâu rồi?

- Tâu Đại vương! Bần Tăng không thấy.

- Rõ ràng vừa mới đây trẫm thấy cô ta đứng sau lưng Trưởng lão mà!

Dầu nghe như vậy, Trưởng lão cũng đáp:

- Tâu Đại vương! Bần Tăng không thấy!

Đức vua nghĩ thầm: “Thế nầy là nghĩa gì?”.

Đức vua bèn thỉnh Trưởng lão:

- Bạch Ngài, xin Ngài hoan hỷ đi ra khỏi chỗ nầy xem!

Khi Trưởng lão ra ngoài cốc, đứng trước sân thì có phụ nữ lại đứng sau lưng vị ấy. Đức vua thấy phụ nữ bèn trèo lên nền chùa. Biết Đức vua sắp đến, Trưởng lão bèn ngồi xuống.

Một lần nữa, Đức vua nhìn soát lại khắp mọi nơi mà chẳng thấy gì, bèn hỏi Trưởng lão:

- Cô phụ nữ đâu rồi?

Trưởng lão cũng trả lời như trước.
- Tâu Đại vương, Bần Tăng không trông thấy!

- Bạch Ngài, xin Ngài hãy nói thật, chính trẫm vừa mới thấy một phụ nữ phía sau lưng Ngài mà!

- Vâng, tâu Đại vương! Mặc dù đại chúng đều nói Bần Tăng đi đâu cũng dắt theo một phụ nữ, nhưng sự thật Bần Tăng chẳng thấy phụ nữ nào cả.

Đức vua suy xét, cho rằng chắc có chuyện gì bí ẩn, bèn nói với Trưởng lão:

- Bạch Ngài, xin Ngài hoan hỷ bước xuống khỏi đây xem!

Khi Trưởng lão bước xuống khỏi nền, đứng trước sân chùa, Đức vua lại thấy hình phụ nữ đứng sau lưng Trưởng lão, nhưng sau khi vị ấy trèo lên nền chùa thì Đức vua lại hết thấy phụ nữ.

Đức vua hỏi Trưởng lão, Trưởng lão lại đáp:

- Bần Tăng không thấy phụ nữ ấy!

Nghe vậy, Đức vua nghĩ: “Việc nầy có chỗ bí ẩn.”, và để chấm dứt, Đức vua nói với Trưởng lão rằng:

- Bạch Ngài, có bóng phiền não đi theo sau lưng Ngài như vậy, ngoài trẫm ra chắc không có một ai đặt bát cho Ngài. Vậy xin thỉnh Ngài hãy thường xuyên vào hoàng cung để trẫm dâng cúng tứ vật dụng.

Sau khi ngỏ lời thỉnh Trưởng lão, Đức vua ra đi. Các Tỳ khưu than phiền với nhau rằng: “Các đạo hữu hãy xem việc làm của nhà vua quấy ác đó. Tưởng đâu nghe lời báo cáo, Đức vua đến đuổi thầy ấy ra khỏi chùa, té ra bây giờ Đức vua lại thỉnh thầy ấy vào cung dâng tứ sự, rồi ra đi.”.

Chư Tăng cũng nói với Trưởng lão rằng:

- Nầy ông phá giới, bây giờ ông được lên chức Quân sư rồi đấy.

Từ trước không thể nói lời gì nghịch lại chư Tăng, nhưng bây giờ đã có chỗ dựa, vị Trưởng lão liền nói trả lại:

- Các ông phá Giới, các ông làm Quân sư, các ông đem phụ nữ đi theo!

Chư Tăng mang việc nầy trình với Đức Thế Tôn:

- Bạch Ngài, thầy Koṇḍadhāna nghe chúng con nói, thầy mắng trả lại chúng con rằng: “Các ông cũng phá Giới v.v…”

Đức Bổn Sư cho gọi Tỳ khưu ấy đến và hỏi:

- Nầy Tỳ khưu, nghe nói thầy đã nói như thế có thật chăng?

- Bạch Ngài! Có thật vậy.

- Nầy Tỳ khưu! Tại sao vậy?

- Tại vì các thầy ấy đã nói con.

- Nầy các Tỳ khưu! Tại sao các thầy lại nói với thầy nầy như vậy?

- Bạch Ngài, vì chúng con thấy cô phụ nữ đi theo thầy nầy.

- Các thầy nầy nói vì có thấy phụ nữ đi chung với thầy, còn thầy không thấy phụ nữ đi chung với họ, mà sao lại nói vậy? Trong tiền kiếp, thầy há đã chẳng nương theo tà kiến tội lỗi mà có quả xấu đến kiếp nầy, bây giờ tại sao thầy còn cố chấp tà kiến tội lỗi nữa vậy?

Chư Tỳ khưu cùng nhau bạch hỏi: “Bạch Ngài! Kiếp trước thầy ấy đã làm gì?”.

Khi ấy, Đức Bổn Sư bèn đem tiền nghiệp của vị Tỳ khưu nầy kể lại cho chư Tăng nghe, rồi bảo vị nầy rằng:

- Nầy Tỳ khưu, do ác nghiệp nầy mà thầy đã có tướng trạng kỳ quái như vậy, bây giờ thầy lại cố chấp tà kiến như trước nữa hay sao? Chớ nói lời chi trả treo với chư Tăng nữa! Hãy là người câm lặng như chiếc chuông bể miệng, làm như vậy thầy sẽ là người chứng Níp Bàn chẳng sai.

Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và ngâm hai bài kệ nầy:

133. “Māvoca pharusaṃ kañci,
Vuttā paṭivadeyyu taṃ;
Dukkhā hi sārambhakathā,
Paṭidaṇḍā phuseyyu taṃ.”

Chớ nên nói lời thô ác. Khi ngươi dùng lời thô ác nói với người khác, người khác cũng dùng lời thô ác nói với ngươi. Thương thay, những lời nóng giận thô ác chỉ làm cho ngươi đau đớn khó chịu như đao gậy mà thôi!

134. “Sace neresi attānaṃ,
Kaṃso upahato yathā;
Esa pattosi nibbānaṃ,
Sārambho te na vijjati.”
Nếu ngươi mặc nhiên như cái đồng la bể,

trước những người đem lời thô ác cãi vả đến cho mình, tức là ngươi đã tự tại đi trên con đường Níp Bàn, người kia chẳng làm sao tìm sự tranh cãi với ngươi được nữa.

(Bản dịch của T.K. Trí Đức)

CHÚ GIẢI:

Kañci: đừng nói lời thô ác với một người nào cả.

Vuttā: ngươi nói kẻ khác phá Giới thế nào, kẻ ấy cũng nói trả lại ngươi thế ấy.

Sārambhakathā: những lời thô ác để tranh lấn áp chế nhau là khổ.

Paṭidaṇḍā: các thứ hình phạt, nhất là hành phạt thân, người dùng đánh đập kẻ khác như thế nào, thì chính ngươi phải bị chúng rơi lên đầu hành phạt người trả lại.

Sace neresi: nếu ngươi có thể giữ mình yên lặng.

Kaṃso upahato yathā: hãy làm như cái đồng la, cái cồng đã bể miệng, nó không phát ra tiếng được như ngươi đã bảo dùng tay chân hoặc đao trượng mà đánh đập kẻ khác.

Esa patto’si: nếu ngươi có thể giữ mình như thế, pháp Hành được kiện toàn rồi, bây giờ ngươi không dể duôi, tức là ngươi đã đắc Níp Bàn vậy.

Sārambho te na vijjati: được như thế thì những lời nói qua nói lại của chư Tăng, nói ngươi phá giới và ngươi nói chư Tăng phá giới là những lời thô ác thái quá, không có và sẽ không bao giờ có nữa.

Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả. Riêng phần Trưởng lão Koṇḍadhāna nhờ huấn từ Đức Bổn Sư ban cho mà đắc quả A La Hán, liền bay lên hư không, nắm lá phiếu đầu tiên.

Bóng người phụ nữ bám sau thầy,
Ai biết là do nghiệp báo gây,
Trong kiếp chư Thiên, vì vọng niệm,
Thử xem tình bạn chắc không đây?...
Chẳng Nhẫn để mà trả quả xưa,
Lời qua tiếng lại cứ dây dưa,
Phật khêu nhớ lại nhân tiền kiếp,
Đắc quả Vô sanh, ác khẩu chừa!
Khác nào chuông bể, hết âm vang,
Người giữ tâm yên, chứng Níp Bàn,
Không nói lời thô, không uất hận,
Đâu còn hình phạt, khổ nhân gian.

DỨT TÍCH TRƯỞNG LÃO KOṆḌADHĀNA

Koṇḍadhānattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Māvoca pharusaṃ kañcīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto koṇḍadhānattheraṃ ārabbha kathesi.

Tassa kira pabbajitadivasato paṭṭhāya ekaṃ itthirūpaṃ therena saddhiṃyeva vicarati. Taṃ thero na passati, mahājano pana passati. Antogāmaṃ piṇḍāya caratopissa manussā ekaṃ bhikkhaṃ datvā, “bhante, ayaṃ tumhākaṃ hotu, ayaṃ pana tumhākaṃ sahāyikāyā”ti vatvā dutiyampi dadanti.

Kiṃ tassa pubbakammanti? Kassapasammāsambuddhakāle kira dve sahāyakā bhikkhū ekamātukucchito nikkhantasadisā ativiya samaggā ahesuṃ. Dīghāyukabuddhakāle ca anusaṃvaccharaṃ vā anuchamāsaṃ vā bhikkhū uposathatthāya sannipatanti. Tasmā tepi “uposathaggaṃ gamissāmā”ti vasanaṭṭhānā nikkhamiṃsu. Te ekā tāvatiṃsabhavane nibbattadevatā disvā “ime bhikkhū ativiya samaggā, sakkā nu kho ime bhinditu”nti cintetvā attano bālatāya cintitasamanantarameva āgantvā tesu ekena, “āvuso, muhuttaṃ āgamehi, sarīrakiccenamhi atthiko”ti vutte sā devatā ekaṃ manussitthivaṇṇaṃ māpetvā therassa gacchantaraṃ pavisitvā nikkhamanakāle ekena hatthena kesakalāpaṃ, ekena nivāsanaṃ saṇṭhāpayamānā tassa piṭṭhito nikkhami. So taṃ na passati, tamāgamayamāno pana purato ṭhitabhikkhu nivattitvā olokayamāno taṃ tathā katvā nikkhamantaṃ passi. Sā tena diṭṭhabhāvaṃ ñatvā antaradhāyi. Itaro taṃ bhikkhuṃ attano santikaṃ āgatakāle āha – “āvuso, sīlaṃ te bhinna”nti. “Natthāvuso, mayhaṃ evarūpa”nti. Idāneva te mayā pacchato nikkhamamānā taruṇaitthī idaṃ nāma karontī diṭṭhā, tvaṃ “natthi mayhaṃ evarūpa”nti kiṃ vadesīti. So asaniyā matthake avatthaṭo viya mā maṃ, āvuso, nāsehi, natthi mayhaṃ evarūpanti. Itaro “mayā sāmaṃ akkhīhi diṭṭhaṃ, kiṃ tava saddahissāmī”ti daṇḍako viya bhijjitvā pakkāmi, uposathaggepi “nāhaṃ iminā saddhiṃ uposathaṃ karissāmī”ti nisīdi. Itaro “mayhaṃ, bhante, sīle aṇumattampi kāḷaṃ natthī”ti bhikkhūnaṃ kathesi. Sopi “mayā sāmaṃ diṭṭha”nti āha. Devatā taṃ tena saddhiṃ uposathaṃ kātuṃ anicchantaṃ disvā “bhāriyaṃ mayā kammaṃ kata”nti cintetvā – “bhante, mayhaṃ ayyassa sīlabhedo natthi, mayā pana vīmaṃsanavasenetaṃ kataṃ, karotha tena saddhiṃ uposatha”nti āha. So tassā ākāse ṭhatvā kathentiyā saddahitvā uposathaṃ akāsi, na pana there pubbe viya muducitto ahosi. Ettakaṃ devatāya pubbakammaṃ.

Āyupariyosāne pana te therā yathāsukhaṃ devaloke nibbattiṃsu. Devatā apīcimhi nibbattitvā ekaṃ buddhantaraṃ tattha paccitvā imasmiṃ buddhuppāde sāvatthiyaṃ nibbattitvā vuddhimanvāya sāsane pabbajitvā upasampadaṃ labhi. Tassa pabbajitadivasato paṭṭhāya taṃ itthirūpaṃ tatheva paññāyi. Tenevassa koṇḍadhānattheroti nāmaṃ kariṃsu. Taṃ tathāvicarantaṃ disvā bhikkhū anāthapiṇḍikaṃ āhaṃsu – “mahāseṭṭhi, imaṃ dussīlaṃ tava vihārā nīhara. Imañhi nissāya sesabhikkhūnaṃ ayaso uppajjissatī”ti. Kiṃ pana, bhante, satthā vihāre natthīti? Atthi upāsakāti. Tena hi, bhante, satthāva jānissatīti. Bhikkhū gantvā visākhāyapi tatheva kathesuṃ. Sāpi nesaṃ tatheva paṭivacanaṃ adāsi.

Bhikkhūpi tehi asampaṭicchitavacanā rañño ārocesuṃ – “mahārāja, koṇḍadhānatthero ekaṃ itthiṃ gahetvā vicaranto sabbesaṃ ayasaṃ uppādesi, taṃ tumhākaṃ vijitā nīharathā”ti. “Kahaṃ pana so, bhante”ti? “Vihāre, mahārājā”ti. “Katarasmiṃ senāsane viharatī”ti? “Asukasmiṃ nāmā”ti. “Tena hi gacchatha, ahaṃ taṃ gaṇhissāmī”ti so sāyanhasamaye vihāraṃ gantvā taṃ senāsanaṃ purisehi parikkhipāpetvā therassa vasanaṭṭhānābhimukho agamāsi. Thero mahāsaddaṃ sutvā vihārā nikkhamitvā pamukhe aṭṭhāsi. Tampissa itthirūpaṃ piṭṭhipasse ṭhitaṃ rājā addasa. Thero rañño āgamanaṃ ñatvā vihāraṃ abhiruhitvā nisīdi. Rājā theraṃ na vandi, tampi itthiṃ nāddasa. So dvārantarepi heṭṭhāmañcepi olokento adisvāva theraṃ āha – “bhante, imasmiṃ ṭhāne ekaṃ itthiṃ addasaṃ, kahaṃ sā”ti? “Na passāmi, mahārājā”ti. “Idāni mayā tumhākaṃ piṭṭhipasse ṭhitā diṭṭhā”ti vuttepi “ahaṃ na passāmi”ccevāha. Rājā “kiṃ nu kho eta”nti cintetvā, “bhante, ito tāva nikkhamathā”ti āha. There nikkhamitvā pamukhe ṭhite puna sā therassa piṭṭhipasse aṭṭhāsi. Rājā taṃ disvā puna uparitalaṃ abhiruhi, tassa āgatabhāvaṃ ñatvā thero nisīdi. Puna rājā taṃ sabbaṭṭhānesu olokentopi adisvā, “bhante, kahaṃ sā itthī”ti puna theraṃ pucchi. Nāhaṃ passāmi mahārājāti. “Kiṃ kathetha, bhante, mayā idāneva tumhākaṃ piṭṭhipasse ṭhitā diṭṭhā”ti āha. Āma, mahārāja, mahājanopi “me pacchato pacchato itthī vicaratī”ti vadati, ahaṃ pana na passāmīti. Rājā “paṭirūpakena bhavitabba”nti sallakkhetvā puna theraṃ, “bhante, ito tāva otarathā”ti vatvā there otaritvā pamukhe ṭhite puna taṃ tassa piṭṭhipasse ṭhitaṃ disvā uparitalaṃ abhiruhi. Puna nāddasa. So puna theraṃ pucchitvā tena “na passāmi”cceva vutte “paṭirūpakameveta”nti niṭṭhaṃ gantvā theraṃ āha – “bhante, evarūpe saṃkilese tumhākaṃ piṭṭhito vicarante añño koci tumhākaṃ bhikkhaṃ na dassati, nibaddhaṃ mama gehaṃ pavisatha, ahameva catūhi paccayehi upaṭṭhahissāmī”ti theraṃ nimantetvā pakkāmi.

Bhikkhū “passathāvuso, rañño pāpakiriyaṃ, ‘etaṃ vihārato nīharā’ti vutte āgantvā catūhi paccayehi nimantetvā gato”ti ujjhāyiṃsu. Tampi theraṃ āhaṃsu – “ambho, dussīla, idānisi rājakoṇḍo jāto”ti. Sopi pubbe bhikkhū kiñci vattuṃ asakkonto “tumhe dussīlā, tumhe koṇḍā, tumhe itthiṃ gahetvā vicarathā”ti āha. Te gantvā satthu ārocesuṃ – “bhante, koṇḍadhānatthero amhehi vutto amhe ‘dussīlā’tiādīni vatvā akkosatī”ti. Satthā taṃ pakkosāpetvā pucchi – “saccaṃ kira tvaṃ, bhikkhu, evaṃ vadesī”ti? “Saccaṃ, bhante”ti. “Kiṃ kāraṇā”ti? “Mayā saddhiṃ kathitakāraṇā”ti. “Tumhe, bhikkhave, iminā saddhiṃ kasmā kathethā”ti. “Imassa pacchato itthiṃ vicarantiṃ disvā, bhante”ti. “Ime kira tayā saddhiṃ itthiṃ vicarantiṃ disvā vadanti, tvaṃ kasmā kathesi, ete tāva disvā kathenti. Tvaṃ adisvāva imehi saddhiṃ kasmā kathesi, nanu pubbe taveva pāpikaṃ diṭṭhiṃ nissāya idaṃ jātaṃ, idāni kasmā puna pāpikaṃ diṭṭhiṃ gaṇhāsī”ti. Bhikkhū “kiṃ pana, bhante, iminā pubbe kata”nti pucchiṃsu. Atha nesaṃ satthā tassa pubbakammaṃ kathetvā “bhikkhu idaṃ pāpakammaṃ nissāya tvaṃ imaṃ vippakāraṃ patto, idāni te puna tathārūpaṃ pāpikaṃ diṭṭhiṃ gahetuṃ na yuttaṃ, mā puna bhikkhūhi saddhiṃ kiñci kathehi, nissaddo mukhavaṭṭiyaṃ chinnakaṃsathālasadiso hohi, evaṃ karonto nibbānappatto nāma bhavissatī”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imā gāthā abhāsi –

“Māvoca pharusaṃ kañci, vuttā paṭivadeyyu taṃ;
Dukkhā hi sārambhakathā, paṭidaṇḍā phuseyyu taṃ.

“Sace neresi attānaṃ, kaṃso upahato yathā;
Esa pattosi nibbānaṃ, sārambho te na vijjatī”ti.

Tattha māvoca pharusaṃ kañcīti kañci ekapuggalampi pharusaṃ mā avaca. Vuttāti tayā pare “dussīlā”ti vuttā, tampi tatheva paṭivadeyyuṃ. Sārambhakathāti esā karaṇuttarā yugaggāhakathā nāma dukkhā. Paṭidaṇḍāti kāyadaṇḍādīhi paraṃ paharantassa tādisā paṭidaṇḍā ca tava matthake pateyyuṃ. Sace neresīti sace attānaṃ niccalaṃ kātuṃ sakkhissasi. Kaṃso upahato yathāti mukhavaṭṭiyaṃ chinditvā talamattaṃ katvā ṭhapitakaṃsathālaṃ viya. Tañhi hatthapādehi vā daṇḍakena vā pahaṭampi saddaṃ na karoti, esa pattosīti sace evarūpo bhavituṃ sakkhissasi, imaṃ paṭipadaṃ pūrayamāno idāni appattopi eso nibbānappatto nāma. Sārambho te na vijjatīti evaṃ sante ca pana “tvaṃ dussīlo, tumhe dussīlā”tievamādiko uttarakaraṇavācālakkhaṇo sārambhopi te na vijjati, na bhavissatiyevāti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsu, koṇḍadhānattheropi satthārā dinnaovāde ṭhatvā arahattaṃ pāpuṇi, na cirasseva ākāse uppatitvā paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhīti.

Koṇḍadhānattheravatthu catutthaṃ.

X. 4. The Monk and the Phantom

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

133. Speak not harshly to anyone; those you address may answer you;
For angry words bring trouble; blows for blows may touch you.

134. If you keep yourself silent as a broken gong,
You have already reached Nibbāna; angry speech is not found in you.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Kuṇḍadhāna.

The story goes that from the day Kuṇḍadhāna became a monk a certain female form accompanied the Elder wherever he went. The Elder himself never saw her, but everybody else saw her. Indeed, whenever the Elder made an alms-pilgrimage in a village, the inhabitants would first give the Elder a portion of alms, saying, “Reverend Sir, this is for you;” and then they would give the woman a second portion of alms, saying, “And this is for our female friend.”

4 a. Story of the Past: The goddess who took the form of a woman

The story goes that in the dispensation of the Buddha Kassapa there were two companion-monks who were as intimately associated with each other as though they had issued from the womb of the same mother. And in the dispensation of the Buddha Dīghāyu, as year by year and month by month the monks met together for the purpose of keeping fast-day, those same two monks would come forth from their lodging and say to each other, “Let us go to the Hall of Discipline together.”

Now a certain goddess reborn in the World of the Thirty-three, seeing those two monks, thought, “These two monks are too much together; is there perhaps some way by which I can separate them?” No sooner had she thought this in her folly than one of the two monks said to his companion, “Brother, wait a moment; I must attend to the needs of nature.” So soon as she heard this, that goddess assumed the form of a woman and entered the thicket with the Elder. When he came out, she followed close behind him, arranging with one hand her tuft of hair and with the other her undergarment.

The Elder himself did not notice her, but when the monk who stood outside waiting for him turned and looked, he saw the woman come out, arranging her hair and her undergarment. As soon as the woman observed that the monk had seen her, she disappeared. When the Elder came up to the monk who was waiting for him, the latter said to him, “Brother, you have broken your vow of chastity.” “I have done no such thing, brother.” “Why, I just saw a young woman come out after you, doing this and that. Yet you say, ‘I have done no such thing.’ ”

The Elder acted as if he had been struck by a thunderbolt. Said he, “Brother, do not ruin me. I have done no such thing.” Said the monk, “What I saw, I saw with my own eyes. Do you expect me to believe you?” And forthwith he broke off the tip of his staff and departed. Moreover, when he sat down in the Hall of Confession, he said, “I will not keep Fast-day in his company.” Said the Elder to the monks, “Brethren, there is not a fleck even the size of an atom on my chastity.” But the monk repeated, “What I saw, I saw with my own eyes.”

When the goddess saw that the monk was unwilling to keep Fast-day with the Elder, she thought to herself, “I have done a grievous wrong.” And straightway she said to the monk, “Reverend Sir, my noble Elder has not really violated his vow of chastity. I did this merely to try him. Pray keep Fast-day with him as usual.” When the monk saw the goddess poised in the air, and heard her speak those words, he believed her, and kept Fast-day with the Elder. He was not, however, so kindly disposed to the Elder as before. Such was the former deed of the goddess. End of Story of the Past.

Now at the end of their allotted term of life, the Elders were reborn according to their good pleasure. The goddess was reborn in the Avīci Hell, and after suffering torment there for a period of an interval between two Buddhas, was reborn in Sāvatthi in the dispensation of the present Buddha as a man. When he had grown up he retired from the world and became a monk, subsequently making his full profession. From the day he retired from the world, that same female form appeared and followed him. Therefore they gave him the name Kuṇḍadhāna. When the monks observed that he was followed about by a woman, they said to Anāthapiṇḍika, “Treasurer, drive this unchaste monk out of your monastery, for by reason of him reproach will fall upon all of the other monks.” “But, Reverend Sirs, is the Teacher not at the monastery?” “He is, lay disciple.” “Well then, the Teacher alone will know.” The monks went and said the same thing to Visākhā, and she gave them the same answer.

The monks, getting no satisfaction from the two lay disciples, reported the matter to the king, saying, “Great king, Kuṇḍadhāna goes about accompanied by a woman, and has thus cast reproach upon all the rest of the monks. Drive him out of your kingdom.” “But where is he, Reverend Sirs?” “In the monastery, great king.” “In which lodging does he reside?” “In such and such.” “Very well, go your way. I will have him caught.” So in the evening the king went to the monastery, caused the Elder’s lodging to be surrounded by his men, and himself stood facing the entrance to the Elder’s cell.

The Elder, hearing a loud noise, came out and stood facing the monastery. The king immediately saw that phantom of a woman standing behind him. When the Elder observed that the king had come to his cell, he went up into the monastery again and sat down, but the king did not make obeisance to the Elder. The king saw the woman no more. Although he looked inside the door and under the bed, still he did not see her. Finally he said to the Elder, “Reverend Sir, I saw a certain woman in this place; where is she?” “I see none, great king.” Then said the king, “I just saw her behind your back.” But the Elder replied as before, “I see no woman, great king.”

“Reverend Sir, just step out here for a moment.” The Elder came out and stood below, facing the monastery. Again that woman stood behind the Elder. The king seeing her, ascended once more to the upper floor. The Elder observing that the king had gone, sat down. The king again looked everywhere, but for all that failed to see the woman. And again he asked the Elder, “Reverend Sir, where is that woman?” “I do not see her.” “Tell me the truth, Reverend Sir. I just saw a woman standing behind your back.” “Yes, great king; that is what everybody says. Everybody says, ‘A woman follows you wherever you go;’ but I never see her.”

The king, suspecting it was a phantom, said once more to the Elder, “Reverend Sir, just step down for a moment.” When the Elder came down and stood facing the monastery, the king once more saw that woman standing behind him. But when the king ascended to the upper floor, he saw her no more. The king again questioned the Elder, but when the latter said, “I see no woman,” the king concluded that it must be a phantom. Accordingly he said to the Elder, “Reverend Sir, with such an impurity following about after you, no one will give even food to you. Therefore visit my house regularly, and I alone will furnish you with the Four Requisites.” And having given him this invitation, he departed.

The monks were offended and said, “Behold the wicked deed of that wicked king! When we asked him to drive that monk out of the monastery, he came and invited him to receive the Four Requisites from him, and then went away again.” And they said to that Elder, “Oh, you corrupt monk, now you have become the king’s bastard!” Thereupon that monk, who formerly had not dared to say a thing to the other monks, said also to them, “You are corrupt, you are bastards, you consort with women.” The monks went and reported the matter to the Teacher, saying, “Reverend Sir, when we spoke to Kuṇḍadhāna, he said to us, ‘You are corrupt, you are bastards, you consort with women.’ With such words as these did he abuse us.” The Teacher sent for him and asked him, “Monk, is it true, as has been reported to me, that you said thus and so?” “Yes, Reverend Sir, it is all true.” “Why did you do so?” “Because they said things to me.” “Monks, why did you say things to him?” “Because we saw a woman following after him.”

Said the Teacher, “They say they spoke to you because they saw a woman accompanying you wherever you went. But why did you say what you said? They said what they said solely because of what they saw, but why did you say what you said, when you had not seen it? It is surely because of your false views in a previous state of existence that this has happened to you; now why do you take a wrong attitude again?” The monks asked the Teacher, “But, Reverend Sir, what was it that he did in a previous state of existence?” Then the Teacher related to them the Elder’s wicked deed in a previous state of existence, concluding as follows, “Monk, it is because of this wicked deed that you have fallen into this sad plight. Surely it is unbecoming in you again to take so wrong an attitude. Do not again hold converse with the monks. Make no sound, even as a brass plate shattered at the rim makes no sound, for by so doing you will attain Nibbāna.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanzas,

133. Speak not harshly to anyone; those you address may answer you;
For angry words bring trouble; blows for blows may touch you.

134. If you keep yourself silent as a broken gong,
You have already reached Nibbāna; angry speech is not found in you.

  1. Cf. Thera-Gāthā Commentary, xv. Text: N iii. 52-58.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này