Chú giải Pháp Cú · Kệ 76 · Dhp 76

Tích Đại Đức La Đà

Rādhattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 76 Kinh Pháp Cú, phẩm Hiền Trí, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 76) “Nidhīnaṃ’ vapavattāra, “Được hiền nhân thánh thiện, Yaṃ passe vajjadassinaṃ; Chỉ bày lối thô thiển, Niggayhavādiṃ medhāviṃ, Nên hoan hỷ kết tình, Tādisaṃ paṇḍitaṃ bhaje; Tôn như bậc cao minh.

Tādisaṃ bhajamānassa,

Chỉ đường ta kiếm lại,

Seyyo hoti na pāpiyoti.” Hầm chôn giấu của cải,

Thân hiền lợi ích nhiều,
Chẳng có chi tai hại.”

Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài an ngự tại Jetavana, đề cập đến Đại đức Rādha (La Đà).

Tương truyền rằng: Lúc còn ở tại gia, Đại đức trên đây vốn là một ông Bà la môn nghèo khó, cư ngụ trong thành Sāvatthī. Vì muốn xuất gia để sống gần gũi chư Tỳ khưu, ông ta đến chùa xin ở làm công quả, nhứt là phụ giúp chư Tăng trong các việc lặt vặt như quét dọn cốc liêu, dưng nước rửa mặt… Tuy nhiên, chư Tăng không nhận cho ông xuất gia, không được toại nguyện, ông trở nên ốm o gầy mòn.

Một hôm, trong lúc quán sát thế gian vào lúc sáng sớm, Đức Bổn Sư quán thấy ông Bà la môn ấy. Để xem ông ta có đủ căn lành hay không, Ngài quán thêm nữa thì biết ông sẽ đắc quả A La Hán. Cho nên, chiều hôm ấy, Đức Thầy ung dung bách bộ trong vòng tinh xá, như đi kinh hành rồi ngự ngay đến chỗ ở của ông Bà la môn và phán hỏi rằng:

- Nầy ông Bà la môn, thường ngày làm công việc chi?

- Bạch Ngài, con làm tất cả mọi việc hộ giúp chư Tăng.

- Ông có được chư Tỳ khưu tế độ chăng?

- Bạch Ngài, về vật thực thì con được tiếp độ, nhưng chư Tăng không nhận cho con xuất gia.

Nhân dịp nầy, Đức Bổn Sư triệu tập Tăng chúng và phán hỏi về vấn đề Bà la môn.

- Nầy các Tỳ khưu, trong các ông, có ai nhớ ra rằng mình đã có thọ bát của ông Bà la môn nầy chăng?

Đại đức Sārīputta đáp rằng:

- Dạ bạch Ngài, con đã nhớ ra, trong lúc con đi trì bình trong thành Rājagaha, chính ông nầy đã đích thân để bát cúng dường đến con một vá thực phẩm. Con nhớ rằng con đã thọ bát của ông ta.

- Nầy Sārīputta, một người hộ giúp ông như thế, không đáng được ông giải khổ hay sao?

Nghe Đức Bổn Sư hỏi vậy, Đại đức Sārīputta vội đáp:

- Lành thay! Bạch Ngài, con sẽ tế độ ông ta.

Nói rồi, Đại đức làm lễ xuất gia cho ông Bà la môn ấy. Mỗi lần nhập chúng trong Trai tăng đường, vị tân sư nầy phải khó khăn vất vả trong sự thọ lãnh vật thực như cơm cháo, vì ông phải đi đến chỗ ngồi ở phía sau cùng chư Tỳ khưu. Thấy vậy, Đại đức mới dắt ông đi du phương, một thầy một trò và nhân thể luôn kèm dạy lần lần, nhắc nhở ông những điều nên hành và những điều phải tránh.

Là người dễ dạy, hết lòng tôn kính thầy chỉ dạy, Sư Rādha chăm chỉ hành đúng theo huấn từ của Đại đức Sārīputta, mấy ngày sau Đại đức Rādha chứng đắc A La Hán quả. Kế đó, Đại đức dắt Sư trở về yết kiến Đức Bổn Sư. Sau khi hai vị đệ tử đảnh lễ và ngồi xuống, Đức Bổn Sư hỏi Đại đức những câu hàn huyên thông thường rồi Đức Bổn Sư hỏi Đại đức rằng:

- Nầy Sārīputta! Học trò mới của ông có dễ dạy không?

- Bạch Ngài, ông ta rất mềm mỏng, dễ dạy. Ông ta không hề tỏ ra nóng giận mỗi khi bị chỉ trích dầu là phạm lỗi nhỏ nhen chút ít.

- Nầy Sārīputta, nếu được những người như vậy theo xin ông tế độ, thì ông sẽ thâu nhận bao nhiêu cho xuất gia.

Một hôm nọ, chư Tỳ khưu câu hội trong giảng đường, đưa ra luận đề như vầy: “Tiếng đồn Đại đức Sārīputta là người biết ghi ơn và biết đền ơn. Sau khi nhớ lại sự hỗ trợ của ông Bà la môn nghèo, dầu chỉ một vá thực phẩm, cũng chịu khó tế độ cho ông ta xuất gia. Đại đức Rādha cũng là người giỏi chịu đựng, uốn nắn, mới gặp được thầy khéo dạy dỗ như thế.”.

Khi Đức Bổn Sư ngự đến giảng đường, nghe chư Tỳ khưu bạch lại đề tài của cuộc luận đạo, Ngài phán rằng:

- Nầy các Tỳ khưu, không phải bây giờ mới như thế đâu, trước kia Sārīputta cũng đã từng là người biết ghi ơn và biết đền ơn như thế rồi.

Đoạn Ngài lại dẫn tích xưa, bắt đầu đọc kệ rằng:

“Alīnacittaṃ nissāya,
Pahaṭṭhā mahatī camū;
Kosalaṃ senāsantuṭṭhaṃ,
Jīvaggāhaṃ agāhayi.
Evaṃ nissaya sampanno,
Bhikkhu āraddhavīriyo;
Bhāvayaṃ kusalaṃ dhammaṃ,
Yogakkhemassa pattiyā;
Pāpuṇe anupubbena,
Sabbasaṃyojanakkhayanti.”
“Nhờ phấn chấn tâm dẫn đầu,
Đại binh hoan hỷ phục thâu san hà.
Sanh cầm vua Kiều Tát La,
Phá tan quân địch bắt hòa chúa tôi.
Cũng vậy phấn chấn tâm rồi,
Tỳ khưu tinh tấn trau dồi thiện duyên,
Chăm lo trì giới tham thiền,
Níp Bàn tịch tịnh chứng liền chẳng sai.
Bao nhiêu kiết sử dẳng dai,
Lần lượt cắt hết một hai chẳng còn.”

Kế đó, Đức Bổn Sư thuyết giảng rành mạch tích Bổn Sanh Phấn Chấn Tâm (Alīnacitta Jātaka), gồm có hai phân đoạn trên đây. Trong đó, con tượng chúa độc chiếc, đã đem con tượng con toàn sắc trắng của mình hiến tặng cho ông thợ mộc vì nhớ ơn người đã chữa lành vết thương nơi chân, chính là Đại đức Sārīputta đây vậy.

Sau khi kể sự tích tiền thân Đại đức Sārīputta, Đức Bổn Sư lại đề cập đến Đại đức Rādha.

- Nầy các Tỳ khưu, bất kể là Tỳ khưu nào, cũng nên noi gương dễ dạy của ông Rādha đây mà bắt chước. Nếu được người trí thức chỉ rõ lỗi mình, không nên nóng giận trong lúc nhận lãnh những lời dạy dỗ. Phải xem người ban huấn từ như là bậc hướng đạo chỉ cho mình chỗ có hầm chôn giấu của cải vậy.

Pāḷi:
“Nidhīnaṃ’va pavattāraṃ,
Yaṃ passe vajjadassinaṃ;
Niggayhavādiṃ medhāviṃ,
Tādisaṃ paṇḍitaṃ bhaje;
Tādisaṃ bhajamānassa,
Seyyo hoti na pāpiyoti.”
Dịch:
“Gặp người hiền trí giải bày,
Những điều lầm lỗi sửa sai cho mình.
Hãy nên cùng họ kết tình,
Xem họ như bậc cao minh chỉ đàng.
Cho ta tìm thấy kho tàng,
Gần hiền vô hại, lợi càng gia tăng.”

CHÚ GIẢI:

Trong Pāḷi, tiếng Nidhīnaṃ nghĩa là: Những kho tàng bí mật, hay là những chỗ nào mà người đã đào lên chôn giấu của cải, thường là những chỗ đựng đầy vàng, bạc chẳng hạn.

Pavattāraṃ: Người chỉ lối không khác nào người có lòng từ mẫn muốn tế độ những kẻ khốn cùng khỏi cảnh vất vả lầm than, bèn kêu: “Hãy lại đây, ta sẽ chỉ cho các người một lối sống an vui.”, rồi dắt họ đến tận chỗ chôn của để dành, lấy tay chỉ và bảo họ: “Hãy lấy của nầy và sống an vui đi.”.

Vajjadassinaṃ: (Người cho thấy lỗi). Có hai hạng Tỳ khưu ưa vạch lỗi của người khác. Một là hạng Tỳ khưu tiểu tâm tìm lỗi lầm sơ suất của Tỳ khưu bạn, để lên mặt khiển trách người ở giữa Tăng chúng. Hai là hạng Tỳ khưu có tâm bi mẫn, muốn tế độ người tăm tối dốt nát, muốn dắt y đi lần đến chỗ sáng suốt, thông minh, giúp cho y tăng trưởng về mặt trí đức, cho nên mỗi việc lầm lỗi của y đều vạch ra cho y nhìn thấy để sửa chữa, ngõ hầu tiến lên bậc trên, trở nên con người đạo hạnh gương mẫu, tiếng Vajjadassinaṃ trong bài kệ chỉ hạng Tỳ khưu thứ hai nầy vậy.

Quả thật, ví như một người khốn cùng, gặp được người chỉ bảo: “Hãy lấy của nầy đi!”. Dầu cho người ấy có dọa nạt, đánh đập anh ta chăng nữa, anh ta cũng không nóng giận mà còn vui thích là khác khi mà mắt anh ta nhận thấy được chỗ chôn vàng.

Cũng vậy, Tỳ khưu nào nhận thấy điều sơ suất lỗi lầm của mình bị vạch ra, không nên tỏ vẻ nóng giận trong khi được chỉ dạy. Trái lại, phải hết lòng hoan hỷ và phải yêu cầu như vầy: “Bạch Ngài, ơn Ngài chỉ bảo thật rất trọng đại, xin Ngài hãy nhận làm Thầy Tiếp dẫn hoặc Thầy Tế độ của con mãi mãi, để ban thêm nhiều huấn từ giáo hóa cho con.”.

Niggayhavādī: (Là người phản đối, khiển trách). Như có một số Thầy Tế độ (Hòa thượng) hoặc Thầy Tiếp dẫn (Yết Ma) nhìn thấy các đệ tử sơ suất phạm lỗi, nhưng không dám nói ra vì cho rằng: “Ông nầy chăm lo hầu hạ ta đàng hoàng tử tế, phục vụ ta được nhiều việc, nhất là dưng nước rửa mặt, nếu ta vạch lỗi ông ta sợ e ông ta sẽ không hầu hạ ta nữa, như thế thì ta sẽ bị thiệt thòi.”. Tỳ khưu nghĩ như vậy không đáng gọi là Niggayhavādī. Vị ấy dung túng tội lỗi, như người xả rác trong giáo pháp nầy vậy.

Còn vị thầy nào thấy đệ tử mình phạm lỗi như thế, mà chỉ dạy, nhắc nhở giới luật, có khi đe dọa đòi đuổi, bắt chịu hình phạt hoặc không cho ở trong chùa thì mới đáng gọi là Niggayhavādī. Cũng như câu kim ngôn của Đức Chánh Biến Tri có dạy rằng: “Nầy Ānanda, việc đáng phản đối thì Như Lai khiển trách, cấm ngăn. Nầy Ānanda, việc đáng ủng hộ thì Như Lai khích lệ, thúc đẩy.” (Niggayha niggayhāhaṃ, Ānanda, vakkhāmi; paggayha paggayhāhaṃ Ānanda vakkhāmi. Yo sāro soṭhassatīti.).

Medhāviṃ: Bực nầy có đầy đủ trí tuệ đã nếm được hương vị của Pháp Bảo.

Tādisaṃ: Nên giao hảo, nương nhờ, học hỏi với bậc hiền trí như thế.

Quả thật, vị đệ tử mà nương nhờ học hỏi với Giáo sư như vậy thì thâu hoạch được nhiều lợi ích, không bao giờ phải chịu thiệt thòi, hoặc tăng thêm những điều quấy ác tai hại.

Thời pháp vừa dứt, nhiều vị Tỳ khưu chứng đắc Đạo quả.

Dầu ơn nhỏ mọn cũng không quên,
Đợi lúc lâm nguy mới đáp đền,
Người trí tùy cơ mà ứng biến,
Giúp cho bạn cũ được làm nên.
Giữ tánh nhu hòa diệt nết sân,
Một lòng cầu tiến, học chuyên cần,
Càng mau thấy lỗi càng mau sửa,
Thầy đó, trò đây, thảy Thánh nhân.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC RĀDHA

Rādhattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Nidhīnaṃva pavattāranti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto āyasmantaṃ rādhattheraṃ ārabbha kathesi.

So kira gihikāle sāvatthiyaṃ duggatabrāhmaṇo ahosi. So “bhikkhūnaṃ santike jīvissāmī”ti cintetvā vihāraṃ gantvā appaharitakaṃ karonto pariveṇaṃ sammajjanto mukhadhovanādīni dadanto antovihāreyeva vasi. Bhikkhūpi naṃ saṅgaṇhiṃsu, pabbājetuṃ pana na icchanti. So pabbajjaṃ alabhamāno kiso ahosi. Athekadivasaṃ satthā paccūsakāle lokaṃ volokento taṃ brāhmaṇaṃ disvā “kiṃ nu kho”ti upadhārento “arahā bhavissatī”ti ñatvā sāyanhasamaye vihāracārikaṃ caranto viya brāhmaṇassa santikaṃ gantvā, “brāhmaṇa, kiṃ karonto vicarasī”ti āha. “Bhikkhūnaṃ vattapaṭivattaṃ karonto, bhante”ti. “Labhasi nesaṃ santikā saṅgaha”nti? “Āma, bhante, āhāramattaṃ labhāmi, na pana maṃ pabbājentī”ti. Satthā etasmiṃ nidāne bhikkhusaṅghaṃ sannipātāpetvā tamatthaṃ pucchitvā, “bhikkhave, atthi koci imassa brāhmaṇassa adhikāraṃ saratī”ti pucchi. Sāriputtatthero “ahaṃ, bhante, sarāmi, ayaṃ me rājagahe piṇḍāya carantassa attano abhihaṭaṃ kaṭacchubhikkhaṃ dāpesi, imamassāhaṃ adhikāraṃ sarāmī”ti āha. So satthārā “kiṃ pana te, sāriputta, evaṃ katūpakāraṃ dukkhato mocetuṃ na vaṭṭatī”ti vutte, “sādhu, bhante, pabbājessāmī”ti taṃ brāhmaṇaṃ pabbājesi. Tassa bhattagge āsanapariyante āsanaṃ pāpuṇāti, yāgubhattādīhipi kilamati. Thero taṃ ādāya cārikaṃ pakkāmi, abhikkhaṇañca naṃ “idaṃ te kattabbaṃ, idaṃ te na kattabba”nti ovadi anusāsi. So suvaco ahosi padakkhiṇaggāhī. Tasmā yathānusiṭṭhaṃ paṭipajjamāno katipāheneva arahattaṃ pāpuṇi.

Thero taṃ ādāya satthu santikaṃ gantvā vanditvā nisīdi. Atha naṃ satthā paṭisanthāraṃ katvā āha – “suvaco nu kho, sāriputta, te antevāsiko”ti. “Āma, bhante, ativiya suvaco, kismiñci dose vuccamāne na kuddhapubbo”ti. “Sāriputta, evarūpe saddhivihārike labhanto kittake gaṇheyyāsī”ti? “Bhante, bahukepi gaṇheyyamevā”ti. Athekadivasaṃ dhammasabhāya kathaṃ samuṭṭhāpesuṃ – “sāriputtatthero kira kataññū katavedī, kaṭacchubhikkhāmattaṃ upakāraṃ saritvā duggatabrāhmaṇaṃ pabbājesi. Theropi ovādakkhamo ovādakkhamameva labhī”ti. Satthā tesaṃ kathaṃ sutvā “na, bhikkhave, idāneva, pubbepi sāriputto kataññū katavedīyevā”ti vatvā tamatthaṃ pakāsetuṃ –

“Alīnacittaṃ nissāya, pahaṭṭhā mahatī camū;
Kosalaṃ senāsantuṭṭhaṃ, jīvaggāhaṃ agāhayi.

“Evaṃ nissayasampanno, bhikkhu āraddhavīriyo;
Bhāvayaṃ kusalaṃ dhammaṃ, yogakkhemassa pattiyā;
Pāpuṇe anupubbena, sabbasaṃyojanakkhaya”nti. (jā. 1.2.11-12) –

Imaṃ dukanipāte alīnacittajātakaṃ vitthāretvā kathesi. Tadā kira vaḍḍhakīhi pādassa arogakaraṇabhāvena kahaṃ attano upakāraṃ ñatvā sabbasetassa hatthipotakassa dāyako ekacāriko hatthī sāriputtatthero ahosīti evaṃ theraṃ ārabbha jātakaṃ kathetvā rādhattheraṃ ārabbha, “bhikkhave, bhikkhunā nāma rādhena viya suvacena bhavitabbaṃ, dosaṃ dassetvā ovadiyamānenapi na kujjhitabbaṃ, ovādadāyako pana nidhiācikkhaṇako viya daṭṭhabbo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –

“Nidhīnaṃva pavattāraṃ, yaṃ passe vajjadassinaṃ;
Niggayhavādiṃ medhāviṃ, tādisaṃ paṇḍitaṃ bhaje;
Tādisaṃ bhajamānassa, seyyo hoti na pāpiyo”ti.

Tattha nidhīnanti tattha tattha nidahitvā ṭhapitānaṃ hiraññasuvaṇṇādipūrānaṃ nidhikumbhīnaṃ. Pavattāranti kicchajīvike duggatamanusse anukampaṃ katvā “ehi, sukhena jīvanūpāyaṃ dassessāmī”ti nidhiṭṭhānaṃ netvā hatthaṃ pasāretvā “imaṃ gahetvā sukhena jīvā”ti ācikkhitāraṃ viya. Vajjadassinanti dve vajjadassino “iminā naṃ asāruppena vā khalitena vā saṅghamajjhe niggaṇhissāmī”ti randhagavesako ca, aññātaṃ ñāpanatthāya ñātaṃ anuggahaṇatthāya sīlādīnamassa vuddhikāmatāya taṃ taṃ vajjaṃ olokanena ullumpanasabhāvasaṇṭhito ca. Ayaṃ idha adhippeto. Yathā hi duggatamanusso “imaṃ gaṇhāhī”ti tajjetvāpi pothetvāpi nidhiṃ dassente kopaṃ na karoti, pamudito eva hoti, evameva evarūpe puggale asāruppaṃ vā khalitaṃ vā disvā ācikkhante kopo na kātabbo, tuṭṭheneva bhavitabbaṃ, “bhante, mahantaṃ vo kammaṃ kataṃ, mayhaṃ ācariyupajjhāyaṭṭhāne ṭhatvā ovadantehi punapi maṃ vadeyyāthā”ti pavāretabbameva. Niggayhavādinti ekacco hi saddhivihārikādīnaṃ asāruppaṃ vā khalitaṃ vā disvā “ayaṃ me mukhodakadānādīhi sakkaccaṃ upaṭṭhahati, sace naṃ vakkhāmi, na maṃ upaṭṭhahissati, evaṃ me parihāni bhavissatī”ti vatthuṃ avisahanto na niggayhavādī nāma hoti. So imasmiṃ sāsane kacavaraṃ ākirati. Yo pana tathārūpaṃ vajjaṃ disvā vajjānurūpaṃ tajjento paṇāmento daṇḍakammaṃ karonto vihārā taṃ nīharanto sikkhāpeti, ayaṃ niggayhavādī nāma seyyathāpi sammāsambuddho. Vuttañhetaṃ – “niggayha niggayhāhaṃ, ānanda, vakkhāmi, pavayha pavayha, ānanda, vakkhāmi, yo sāro so ṭhassatī”ti (ma. ni. 3.196). Medhāvinti dhammojapaññāya samannāgataṃ. Tādisanti evarūpaṃ paṇḍitaṃ bhajeyya payirupāseyya. Tādisañhi ācariyaṃ bhajamānassa antevāsikassa seyyo hoti, na pāpiyo vaḍḍhiyeva hoti, no parihānīti.

Desanāpariyosāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Rādhattheravatthu paṭhamaṃ.

VI. 1. A Poor Man wins Spiritual Treasure

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

76. Should one see, as it were, a revealer of hidden treasures, one who points out what should be avoided,
Who administers reproof where there is occasion for reproof, a man of intelligence, one should follow so wise a man;
It will be better, not worse, for one to follow so wise a man.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Venerable Rādha.

We are told that before Rādha became a monk he was a poor Brahman living at Sāvatthi. Deciding to live with the monks, he went to the monastery and took up his residence there, performing various duties such as cutting the grass, sweeping the cells, and preparing water for bathing the face. The monks treated him kindly, but were not willing to admit him to the Order. The result of this was that he began to lose flesh.

Now one day, early in the morning, the Teacher surveyed the world and seeing the Brahman, considered within himself what would become of him. Perceiving that he would become an Arahat, he went in the evening, feigning that he was making a tour of the monastery, to the Brahman’s quarters and said to him, “Brahman, what are you doing here?” “Performing the major and minor duties for the monks, Reverend Sir.” “Do they treat you kindly?” “Yes, Reverend Sir, I receive sufficient food, but they are not willing to admit me to the Order.” Accordingly the Teacher convoked an assembly of the monks and questioned them about the matter, saying, “Monks, is there anyone who remembers any act of this Brahman?”

Said the Elder Sāriputta, “Reverend Sir, I remember something. When I was making my round in Rājagaha, he brought me a ladleful of his own food and gave it to me. I remember this good office of his.” Said the Teacher, “Sāriputta, is it not proper to release from suffering one who has performed such a service?” “Very well, Reverend Sir, I will receive him into the Order.” Sāriputta accordingly received him into the Order. He received a seat in the refectory in the outer circle of the seats. Even with rice-porridge and other kinds of food, he grew weary.

The Elder took him with him on his rounds and constantly admonished and instructed him, saying, “You must do this; you must not do that.” The monk was amenable to discipline and respectful, and followed his preceptor’s instructions so faithfully that in but a few days he attained Arahatship. The Elder went with him to the Teacher, paid obeisance to the Teacher, and sat down. The Teacher gave him a friendly welcome and said to him, “Sāriputta, is your pupil amenable to discipline?” “Yes, Reverend Sir, he is thoroughly amenable to discipline; no matter what fault I mention, he never shows resentment.” “Sāriputta, if you could have pupils like this monk, how many would you take?” “I would take all I could get, Reverend Sir.”

Now one day the monks began a discussion in the Hall of Truth: “They say the Elder Sāriputta is grateful and thankful. When a poor Brahman gave him but a ladleful of food, he remembered his kindness and made a monk of him. Moreover the Elder Rādha, patient of admonition, received a patient teacher.” The Teacher, hearing their talk, said, “Monks, this is not the first time Sāriputta has shown himself grateful and thankful. He showed the same disposition in a previous state of existence also.” And to illustrate his meaning, he related the Alīnacitta Jātaka, found in the Second Book, as follows:

Because of Alīnacitta, a mighty host was defeated;
Alīnacitta captured alive the king of Kosala, dissatisfied with his army.

Even so a monk alert of will, directed aright,
By cultivating good qualities, by the attainment of Nibbāna,
Will in due time bring about the destruction of all Attachments.

Said the Teacher, “The Elder Sāriputta was at that time the solitary elephant which presented the pure white elephant his son to the carpenters, in recognition of the service they did him in healing his foot.” Having thus related the Jātaka about the Elder Sāriputta, he said with reference to the Elder Rādha, “Monks, when a fault is pointed out to a monk, he ought to be amenable to discipline like Rādha; and when he is admonished, he should not take offense. Indeed he who gives admonition should be looked upon as one who points out where treasures are to be found.” So saying, he joined the connection and, instructing them in the Law, pronounced the following Stanza,

76. Should one see, as it were, a revealer of hidden treasures, one who points out what should be avoided,
Who administers reproof where there is occasion for reproof, a man of intelligence, one should follow so wise a man;
It will be better, not worse, for one to follow so wise a man.

  1. Text: N ii. 104-108.
  2. Jātaka 156: a. 17-23.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 2, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề