Chú giải Pháp Cú · Kệ 280 · Dhp 280

Tích Đại Đức Tissa Nôn Tu

Padhānakammikatissattheravatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 280 Kinh Pháp Cú, phẩm Đạo, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 280)

“Uṭṭhānakālamhi anutthāno
Yuvā balī ālasiyaṃ upeto
Saṃsannasaṅkappamano kusīto
Paññāya maggaṃ alaso na vindati .”
“Khi cần không nỗ lực
Tuy trẻ mạnh, nhưng lười
Chỉ tiêu trầm nhu nhược
Sao có trí ngộ đạo.”
(HT Thích Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết ra khi Ngài ngự tại Jetavana, đề cập đến Đại Đức Tissa Padhāna kammika (Tinh Cần khổ hạnh).

Tương truyền rằng: Có năm trăm Công tử con nhà gia thế, cư ngụ trong thành Sāvatthī, sau khi xuất gia với Đức Bổn Sư, đã thụ huấn đề mục Chỉ quán và đi vào rừng hành đạo. Trong số đó có một số rớt lại phía sau, kỳ dư đều hành Sa môn pháp trong rừng và chứng đắc A La Hán Quả. Các Ngài trở về thành Sāvatthī với ý nghĩ:

- Chúng ta sẽ báo tin mừng đắc quả cho Đức Bổn Sư hay.

Khi về còn cách Sāvatthī độ một do tuần, các Ngài đi trì bình ở một thôn trang, một cận sự nam trông thấy Ngài, đã hộ độ cơm, cháo, bánh trái… Sau khi nghe kinh phúc chúc, lại thỉnh chư Tỳ Khưu nhận vật thực vào ngày mai.

Trong ngày ấy chư Tỳ Khưu về đến thành Sāvatthī, sau khi cất dẹp y bát, vào xế chiều đến yết kiến Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Bổn Sư rất hoan hỷ đối với đoàn khách Tăng, niềm nở tiếp đãi, chuyện trò thân mật với chư Tăng. Khi ấy có vị Tỳ Khưu là bạn cũ của chư Tăng nầy, nhưng vì giải đãi mà rớt lại phía sau, tự nghĩ rằng:

- Đức Bổn Sư không đủ lời lẽ để tiếp đãi, chuyện trò thân mật với các vị nầy. Còn đối với ta, có lẽ vì ta chưa đắc Đạo quả nên Ngài không nói lời nào cả. Nội ngày mai ta sẽ hành cho đắc quả A La Hán để được Ngài nói chuyện với ta.

Đoàn Tăng khách sau cuộc hàn huyên, cáo từ Đức Thế Tôn lui ra, bạch rằng:

- Bạch Ngài! Trên đường về chùa, chúng con được một thiện nam cung thỉnh nhận vật thực vào ngày mai. Vậy sáng sớm mai, chúng con sẽ đi đến đó.

Khi ấy, một vị Tỳ Khưu của chư Tăng vì thức đi kinh hành suốt đêm, đến khuya mòn mỏi, phát sanh hôn trầm, té xuống một tảng đá bằng phẳng ở đầu đường kinh hành và bị gãy xương bắp về. Vị ấy kêu thét lên một tiếng lớn. Các Tỳ Khưu khách nhận ra tiếng kêu của Đại Đức Tissa, nên đốt đèn lên, tìm thuốc, săn sóc, băng bó vết thương cho Đại Đức Tissa. Khi công việc đã xong thì mặt trời đã lên cao, chư Tăng không còn đủ thời giờ đi đến làng ấy khất thực nữa.

Đức Bổn Sư thấy vậy, hỏi chư Tăng rằng:

- Nầy các Tỳ Khưu! Các thầy không đi đến làng nhận vật thực ư?

- Bạch Ngài, không ạ. – Chư Tăng thuật chuyện đến Đức Thế Tôn.

- Nầy các Tỳ Khưu! Không phải đây chỉ là lần đầu mà vị ấy làm trở ngại việc nhận thực thí của chư Tăng. Mà xưa kia thấy ấy cũng đã từng thế rồi.

Theo lời thỉnh cầu của chư Tăng, Ngài thuyết lên tiền tích rằng:

“Yo pubbe karanīyāni
Paccha so kātumicchāti
Varanakatthaṃ bhañjova
Sa pacchā anutappatīti .”
“Ai việc phải làm trước
Về sau mới muốn làm
Như bẻ củi Varana
Nó về sau bị khổ.”
Rồi Ngài giảng rộng Bổn sanh rằng: Theo truyền

thuyết: Thuở xưa, chư Tăng nầy cũng là năm trăm thanh niên, chàng trai lười biếng hay là Tỳ Khưu Tissa, Giáo Sư năm xưa nay là Đấng Như Lai vậy.

Để kết thúc câu chuyện, Đức Bổn Sư dạy rằng:

- Nầy chư Tỳ Khưu! Kẻ không thức dậy khi đến thời cần thức dậy, kẻ lười biếng, ý chí nhu nhược, kẻ ấy không bao giờ phát triển được Thiền Định hay giác ngộ Đạo quả Níp Bàn cùng các pháp Thượng nhân khác.

Rồi Ngài ngâm lên kệ ngôn rằng:

“Uṭṭhānakālamhi anutthāno
Yuvā balī ālasiyaṃ upeto

Saṃsannasaṅkappamano kusīto
Paññāya maggaṃ alaso na vindati .”
“Khi cần không nỗ lực
Tuy trẻ mạnh, nhưng lười
Chỉ tiêu trầm nhu nhược
Sao có trí ngộ đạo.”
(HT Thích Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Anutthāno : Anutthahanto : là không tinh tấn.

Yuvā balī : Trong thời trai trángc ó đầy đủ sức mạnh.

Ālasiyaṃ upeto : Sanh tật lười biếng, ăn no lại nằm.

Saṃsannasaṅkappamano : Cái tâm tốt đẹp trở thành nhu nhược vì ba thứ tư tưởng tà kiến (Tīhimicchāvitakkehi) (Câu nầy theo bản dịch của ông Phạm Kim Khánh dịch từ Ngài Nārada là: Tinh thần suy nhược, trong ấy các tâm chân chánh bị suy đồi.) .

Kusīto : Không tinh tấn.

Alaso : Uể oải, lười biếng, kẻ đại lản (mahā-alaso) ấy không giác ngộ, không đắc vì không thấy Thánh Đạo cần phải thấy bằng trí tuệ.

Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ Khưu chứng đắc Thánh Quả như Tu Đà Hườn.

Xưa đã từng quen nết biếng lười
Nay tu chẳng tiến kịp theo người
Nôn nao muốn gấp hầu bên Phật
Hăng hái hành khuya, sợ sáng trời
Mệt mõi thành ra tâm ý muội
Hôn trầm mới để xác thân rơi
Xương đùi Sư gãy, làm Tăng đói
Một phút Vô minh, tật suốt đời.

DỨT TÍCH ĐẠI ĐỨC TISSA NÔN TU

Padhānakammikatissattheravatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Uṭṭhānakālamhīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto padhānakammikatissattheraṃ ārabbha kathesi.

Sāvatthivāsino kira pañcasatā kulaputtā satthu santike pabbajitvā kammaṭṭhānaṃ gahetvā araññaṃ agamaṃsu. Tesu eko tattheva ohīyi. Avasesā araññe samaṇadhammaṃ karontā arahattaṃ patvā “paṭiladdhaguṇaṃ satthu ārocessāmā”ti puna sāvatthiṃ agamaṃsu. Te sāvatthito yojanamatte ekasmiṃ gāmake piṇḍāya carante disvā eko upāsako yāgubhattādīhi patimānetvā anumodanaṃ sutvā punadivasatthāyapi nimantesi. Te tadaheva sāvatthiṃ gantvā pattacīvaraṃ paṭisāmetvā sāyanhasamaye satthāraṃ upasaṅkamitvā vanditvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. Satthā tehi saddhiṃ ativiya tuṭṭhiṃ pavedayamāno paṭisanthāraṃ akāsi.

Atha nesaṃ tattha ohīno sahāyakabhikkhu cintesi – “satthu imehi saddhiṃ paṭisanthāraṃ karontassa mukhaṃ nappahoti, mayhaṃ pana maggaphalābhāvena mayā saddhiṃ na katheti, ajjeva arahattaṃ patvā satthāraṃ upasaṅkamitvā mayā saddhiṃ kathāpessāmī”ti. Tepi bhikkhū, “bhante, mayaṃ āgamanamagge ekena upāsakena svātanāya nimantitā, tattha pātova gamissāmā”ti satthāraṃ apalokesuṃ. Atha nesaṃ sahāyako bhikkhu sabbarattiṃ caṅkamanto niddāvasena caṅkamakoṭiyaṃ ekasmiṃ pāsāṇaphalake pati, ūruṭṭhi bhijji. So mahāsaddena viravi. Tassa te sahāyakā bhikkhū saddaṃ sañjānitvā ito cito ca upadhāviṃsu. Tesaṃ dīpaṃ jāletvā tassa kattabbakiccaṃ karontānaṃyeva aruṇo uṭṭhahi, te taṃ gāmaṃ gantuṃ okāsaṃ na labhiṃsu. Atha ne satthā āha – “kiṃ, bhikkhave, bhikkhācāragāmaṃ na gamitthā”ti. Te “āma, bhante”ti taṃ pavattiṃ ārocesuṃ. Satthā “na, bhikkhave, esa idāneva tumhākaṃ lābhantarāyaṃ karoti, pubbepi akāsiyevā”ti vatvā tehi yācito atītaṃ āharitvā –

“Yo pubbe karaṇīyāni, pacchā so kātumicchati;
Varuṇakaṭṭhabhañjova, sa pacchā manutappatī”ti. (jā. 1.1.71) –

Jātakaṃ vitthāresi. Tadā kira te bhikkhū pañcasatā māṇavakā ahesuṃ, kusītamāṇavako ayaṃ bhikkhu ahosi, ācariyo pana tathāgatova ahosīti.

Satthā imaṃ dhammadesanaṃ āharitvā, “bhikkhave, yo hi uṭṭhānakāle uṭṭhānaṃ na karoti, saṃsannasaṅkappo hoti, kusīto so jhānādibhedaṃ visesaṃ nādhigacchatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Uṭṭhānakālamhi anuṭṭhahāno,
Yuvā balī ālasiyaṃ upeto;
Saṃsannasaṅkappamano kusīto,
Paññāya maggaṃ alaso na vindatī”ti.

Tattha anuṭṭhahānoti anuṭṭhahanto avāyamanto. Yuvā balīti paṭhamayobbane ṭhito balasampannopi hutvā alasabhāvena upeto hoti, bhutvā sayati. Saṃsannasaṅkappamanoti tīhi micchāvitakkehi suṭṭhu avasannasammāsaṅkappacitto. Kusītoti nibbīriyo. Alasoti mahāalaso paññāya daṭṭhabbaṃ ariyamaggaṃ apassanto na vindati, na paṭilabhatīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Padhānakammikatissattheravatthu pañcamaṃ.

XX. 5. Do not postpone until To-morrow

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

280. He that rises not when it is time to rise, young, strong, given over to laziness,
Weak of will and thought, indolent, such a lazy man finds not the path to wisdom.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to Elder Padhānakammika Tissa.

The story goes that five hundred youths of Sāvatthi retired from the world, became monks under the Teacher, obtained a Subject of Meditation from the Teacher, and withdrew to the forest. One of them fell away then and there, but the rest performed their meditations with such diligence that they attained Arahatship. Thereupon they returned once more to the Teacher to inform him of the blessing they had received. Now as they were going their rounds for alms in a village only a league from Sāvatthi, a certain lay disciple saw them, honored them with offerings of rice-gruel, boiled rice, and other kinds of food, and after listening to the words of thanksgiving which they pronounced, invited them to be his guests for the following day.

On that same day they went to Sāvatthi, put away their bowls and robes, and in the afternoon approached the Teacher, saluted him, and sat down. The Teacher expressed great pleasure at seeing them and exchanged friendly greetings with them. Thereupon the monk who had been their fellow and had there fallen away thought to himself, “The Teacher lacks sufficient words with which to exchange friendly greetings with these monks. But to me, since I have not attained the Paths and the Fruits, he vouchsafes never a word. I will attain Arahatship this very day, and having so done, will approach the Teacher and cause him to speak to me.”

The monks took leave of the Teacher, saying, “Reverend Sir, as we were on our way hither, we were invited by a certain lay disciple to be his guests on the morrow. To-morrow, early in the morning, we shall go thither.” As for their fellow-monk, he spent the entire night walking up and down. Finally, overcome by drowsiness, he stumbled against a certain stone seat at the end of the cloister and broke his thigh-bone, whereupon he screamed with a loud noise. His fellow-monks, recognizing the sound of his voice, ran hither and thither in great confusion. They lighted a light and rendered him such assistance as he needed. But even as they were ministering to his needs, the sun rose, and the result was that they had no opportunity to go to the village.

Said the Teacher to them, “Monks, did you not go to the village to receive the promised offerings?” “No, Reverend Sir,” replied the monks, and told him of the incident. Then said the Teacher, “Monks, this is not the first time he has prevented you from receiving promised offerings; he did the same thing also in a previous state of existence.” Then, in compliance with a request of the monks, the Teacher related the following Story of the Past:

Whoever postpones until afterwards the doing of duties that should be done before,
Repents afterwards, like the man who broke the green twigs of the Varaṇa-tree.

Having related the Jātaka in detail, the Teacher said, “At that time these monks were the five hundred youths, the lazy youth was this monk, and the teacher was the Tathāgata.” In concluding his lesson the Teacher said, “Monks, whoever does not rise when it is time to rise, whoever is weak of will and indolent, such a man never develops Trance or any other of the Specific Attainments.” So saying, he pronounced the following Stanza,

280. He that rises not when it is time to rise, young, strong, given over to laziness,
Weak of will and thought, indolent, such a lazy man finds not the path to wisdom.

  1. This story is an abbreviated version of Jātaka 71: i. 316-319. Text: N iii. 407-410.
  2. Jātaka 71: 1.317-319. Ed. note: The story tells of a lazy brahmin who collected green wood for a fire and thereby delayed a group going to a feast.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề