Lười biếng, hay để việc đến mai: Phật dạy gì?
Trời lạnh quá, nóng quá, đói quá, no quá, thôi để mai làm. Nghe quen không? Đức Phật kể đúng những cái cớ ấy trong một bài kinh dạy người tại gia, và nói thẳng nó dẫn đến đâu.
Sáu cái cớ trong Kinh Thi-ca-la-việt
Trong Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31), Đức Phật nêu sáu nguyên nhân phung phí tài sản cho chàng gia chủ trẻ. Mục cuối cùng là: “Quen thói lười biếng là nguyên nhân phung phí tài sản.” Rồi Ngài tả nó cụ thể:
Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm: “quá lạnh”, không làm việc; “quá nóng”, không làm việc; “quá trễ” không làm việc; “quá sớm”, không làm việc; “tôi đói quá”, không làm việc; “tôi quá no”, không làm việc. Trong khi những công việc phải làm lại không làm. Tài sản chưa có không xây dựng lên, tài sản có rồi bị tiêu thất.
Trường Bộ 31
Sáu cái cớ này gần như lúc nào cũng viện được: sớm cũng có lý do, trễ cũng có lý do, đói cũng có, no cũng có. Theo cách đọc của người viết, kinh không bảo những cảm giác ấy là giả. Kinh chỉ ra rằng người đã quen lười thì lúc nào cũng tìm được một lý do trong số đó.
Cái hại kinh nêu: không có gì được dựng lên
Hậu quả kinh tả chỉ có hai vế: việc phải làm thì không làm, và tài sản vì thế không thêm lên, có rồi cũng hao đi. Trong các kinh bài này dẫn, không thấy kinh dọa phạt hay gọi đó là tội. Cái hại là cái hại thực tế, đo được trong đời sống.
Kệ của kinh nêu hướng ngược lại:
Ai xem lạnh và nóng,
Trường Bộ 31
Nhẹ nhàng hơn cỏ lau,
Làm mọi công chuyện mình,
Hạnh phúc không từ bỏ.
Theo cách đọc của người viết: người coi cái lạnh, cái nóng nhẹ như cọng cỏ lau mà vẫn làm việc của mình thì hạnh phúc không rời bỏ họ.
Để ý chữ “quen thói” trong câu kinh. Theo cách đọc của người viết, kinh nói về lười như một thói quen, tức là thứ đã có thì có thể từng bước bỏ, chứ không phải tính cách cố định của một người. Kinh cũng đặt lười biếng ngay cạnh những chuyện rất đời như tiền, của cải và công việc, không phải trong phần dạy về thiền định.
Pháp Cú: khi cần mà không nỗ lực
Khi cần, không nỗ lực,
Pháp Cú 280
Tuy trẻ mạnh, nhưng lười,
Chí nhu nhược, biếng nhác,
Với trí tuệ thụ động,
Sao tìm được chánh đạo?
Kệ chỉ ra ba điều: cần nỗ lực mà không nỗ lực, có sức mà vẫn lười, “trí tuệ thụ động” (người viết diễn giải là trí tuệ chịu ngồi yên). Kệ nói về chánh đạo (con đường tu), nhưng theo cách đọc của người viết, ý ấy đúng với mọi việc cần làm. Kệ 112 so sánh với một trăm năm sống lười nhác: “Tốt hơn sống một ngày / Tinh tấn tận sức mình.”
Từ cái cớ đến một việc nhỏ
Kinh không đưa ra phương pháp quản lý thời gian. Phần này là gợi ý của người viết, ngoài lời kinh: gọi tên cái cớ trước khi nghe theo nó. Hôm nay mình đang nói “quá lạnh”, “đói quá” hay “để mai”?
Thử hình dung chị Thu để chồng giấy tờ cuối tháng suốt nhiều tuần. Sáng chị bảo còn quá sớm, trưa bảo trời nóng quá, chiều bảo đói quá. Đúng ba trong sáu cái cớ của kinh. Tuần này chị thử cách khác: hẹn với mình đúng mười phút trước bữa tối, chỉ để phân loại giấy tờ. Mười phút xong, chị được quyền dừng. Nhận xét của người viết: việc lớn thường bắt đầu từ việc đủ nhỏ để cái cớ không kịp mọc.
Một gợi ý nhỏ
Chọn một việc bạn đã hoãn quá ba ngày, ghi lại cái cớ đã nói với mình, rồi làm mười phút đầu. Muốn đọc nguyên văn, xem Kinh Thi-ca-la-việt và Pháp Cú, Phẩm Đạo. Nếu bạn bận đến mức không còn chỗ cho việc tu, có bài Bận rộn vẫn tu được.
Hỏi nhanh
Lười biếng có phải là tội theo Phật giáo không?
Trong các kinh bài này dẫn, không thấy gọi lười biếng là tội. DN 31 xếp nó vào sáu nguyên nhân phung phí tài sản và nêu sáu nguy hiểm, tức cái hại thực tế.
Kinh liệt kê những cái cớ lười nào?
DN 31 kể sáu cái cớ: quá lạnh, quá nóng, quá trễ, quá sớm, đói quá, no quá.
Mệt thật thì có nên nghỉ không?
Trong các kinh bài này dẫn, không thấy kinh cấm nghỉ khi mệt. Phân biệt nghỉ cần thiết với cái cớ là việc mỗi người tự soi. Về cách giữ sức vừa phải, xem bài Áp lực thi cử (AN 6.55).
Pháp Cú nói gì về người trẻ khỏe mà lười?
Dhp 280: “Khi cần, không nỗ lực, / Tuy trẻ mạnh, nhưng lười”, rồi hỏi “Sao tìm được chánh đạo?”.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Sigālovāda), bản HT. Thích Minh Châu, DN 31 trên SuttaCentral; bản Hoan Hỉ Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31).
- Pháp Cú, kệ 280, bản HT. Thích Minh Châu, Pháp Cú, Phẩm Đạo (Dhp 273–289) trên Hoan Hỉ; kệ 112, Pháp Cú, Phẩm Ngàn (Dhp 100–115) trên Hoan Hỉ.
- Các câu trong ngoặc kép và các khối trích là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu; phần diễn giải ngoài ngoặc kép và phần ghi “cách đọc của người viết” là của người viết.