Đức Phật về Ca-tỳ-la-vệ: người con trở về nhà
Một người cha đứng giữa đường thấy con trai mình, người từng là thái tử, đang ôm bát đi xin từng nhà. Ông thấy xấu hổ. Người con đáp: đây là truyền thống của dòng dõi con.
Người sứ giả nói bằng thơ
Tăng Chi Bộ ghi: trong hàng đệ tử Tỷ-kheo, người đứng đầu về làm cho các gia đình có lòng tin là Kāḷudāyī (AN 1.225). Theo chú giải Tăng Chi Bộ, vua Tịnh Phạn (Suddhodana) nghe tin con đã thành Phật, lần lượt cử chín vị đại thần, mỗi vị dẫn một nghìn người, đến thỉnh Ngài về. Cả chín đoàn nghe Pháp xong đều chứng quả A-la-hán, xuất gia, và không chuyển lời nhắn. Người thứ mười là Kāḷudāyī, bạn cùng tuổi với thái tử ngày xưa; Ngài xin phép xuất gia và hứa sẽ đưa Đức Phật về.
Kinh tạng giữ những bài kệ Ngài dùng để mời. Đó là thơ về mùa cây trổ hoa:
Thế Tôn, nay là thời,
Các cây nở hoa đỏ,
Từ bỏ chòm lá cũ,
Tìm đến thời sai quả.
Chúng như ngọn lửa hừng,
Chói sáng và rực sáng,
Bạch đấng Đại anh hùng,
Nay là thời hưởng vị.Không quá lạnh, quá nóng,
Trưởng Lão Tăng Kệ 10.1, kệ 1 và 3
Thế Tôn thời tiết đẹp,
Hãy để hai dân tộc,
Thích-Ca, Ko-li-ya,
Nhìn Ngài mặt hướng Tây,
Vượt sông Ro-hi-ni.
Trong các kệ sau, Ngài nhắc rằng cha của bậc Đại Sĩ tên là Suddhodana, mẹ tên là Māyā, người đã mang thai Bồ-tát, nay đang vui ở cõi trời (kệ 8). Ở kệ cuối, Ngài nói với vua Tịnh Phạn: “Con là con của Đức Phật; thưa Sakya, Ngài là cha của cha con; thưa Gotama, theo Pháp, Ngài là ông nội của con” (kệ 10).
Có lẽ bạn cũng từng muốn mời một người thân về nhà sau nhiều năm xa cách mà không biết nói sao. Ngài Ca-lưu-đà-di không nói “cha đang chờ”, mà kể về mùa cây trổ hoa, về con đường dễ đi, về dòng sông quê. Lời mời nhẹ nhàng nhất đôi khi lại chạm đến lòng người nhất.
Không ai mời một bữa ăn
Chú giải Tăng Chi Bộ kể Đức Phật rời Vương Xá cùng hai vạn Tỷ-kheo. Chú giải Pháp Cú kể khi đến nơi, để hạ lòng kiêu mạn của các bậc trưởng thượng họ Sakya, Đức Phật hiện thần thông, đi kinh hành trên một con đường báu giữa hư không, và họ hàng, đứng đầu là vua Tịnh Phạn, đều đảnh lễ Ngài. Chú giải còn kể một trận mưa lạ (pokkharavassa) rơi xuống, và Đức Phật kể chuyện tiền thân Vessantara. Những chi tiết này thuộc chú giải.
Chú giải Pháp Cú kể tiếp một chi tiết rất đời thường: nghe Pháp xong, mọi người ra về mà không ai mời Đức Phật và chư Tăng dùng bữa hôm sau; chính nhà vua cũng không mời, vì nghĩ con mình về thì sẽ về nhà mình, và cho sửa soạn sẵn thức ăn trong cung. Sáng hôm sau, Đức Phật cùng chư Tăng ôm bát đi khất thực từng nhà trong thành Ca-tỳ-la-vệ. Mẹ của La-hầu-la, theo truyền thống tên là Da-du-đà-la (Yasodharā), từ trên lầu thấy vậy, báo cho nhà vua. Vua vội vã chạy ra, trách: “Sao con làm cha xấu hổ? Đi xin ngay trong thành này, nơi con từng đi kiệu vàng?” Đức Phật đáp: đây là truyền thống của dòng dõi con, dòng dõi chư Phật, ai cũng sống bằng khất thực. Rồi ngay trên đường, Ngài nói kệ:
Nỗ lực, chớ phóng dật!
Pháp Cú 168
Hãy sống theo chánh hạnh;
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời này, đời sau.
Theo chú giải, cuối bài kệ, vua Tịnh Phạn chứng quả Nhập lưu. Hãy hình dung khoảnh khắc ấy: hai cha con đứng giữa phố, một người thấy xấu hổ, một người thấy bình an. Mỗi người đứng ở một dòng dõi khác nhau, và người con đã tìm ra cách mời cha bước sang dòng dõi của mình.
La-hầu-la xin gia tài
Luật tạng, Đại Phẩm, kể phần tiếp theo. Một buổi sáng, Đức Phật đến nhà vua Tịnh Phạn, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Mẹ của La-hầu-la bảo con: “Rāhula, đó là cha con. Hãy đến xin gia tài.” Cậu bé đến đứng trước Đức Phật và nói: “Thưa Sa-môn, bóng của Ngài thật mát.” Khi Đức Phật đứng dậy ra về, cậu đi theo sau: “Thưa Sa-môn, hãy cho con gia tài! Hãy cho con gia tài!” (Kd 1, đoạn 54.1.4–54.2.6).
Đức Phật bảo Ngài Xá-lợi-phất cho La-hầu-la xuất gia, và nhân đó chế cách cho Sa-di xuất gia bằng ba lần quy y Phật, Pháp, Tăng (đoạn 54.2.7–54.4.1). Lời quy y ấy vẫn là lời chúng ta đọc hôm nay, như trong Kinh Tam Quy (Khp 1). Gia tài Đức Phật để lại cho con không phải vàng bạc mà là Pháp. Bài La-hầu-la và mái tu kể tiếp về cuộc đời vị Sa-di nhỏ này, và Kinh Giáo Giới La-hầu-la (MN 61) ghi lời Đức Phật dạy con về tấm gương soi.
Nỗi lòng người ông
Nghe tin cháu xuất gia, vua Tịnh Phạn đến gặp Đức Phật và xin một ân huệ. Đức Phật nói chư Như Lai đã vượt qua chuyện ban ân huệ. Vua thưa: đây là điều hợp lẽ, không có lỗi. Rồi vua nói:
- “Bạch ngài, khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít, tương tự như vậy trong việc Nandā, (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da; sau khi cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong; sau khi cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt; sau khi cắt vào thịt, nó cắt vào gân; sau khi cắt vào gân, nó cắt vào xương; sau khi cắt vào xương, nó đạt đến tủy xương rồi trú (ở đó). Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.”
Luật tạng, Đại Phẩm, Kd 1, đoạn 54.5.1–54.5.3
Đức Phật giảng Pháp cho vua, rồi chế luật: không được cho người con xuất gia khi chưa có sự cho phép của cha mẹ (đoạn 54.6.4). Điều luật ấy đến nay vẫn được giữ. Có thể nói, đó là món quà của một người ông dành cho mọi gia đình về sau.
Nanda mà vua nhắc đến là em của Đức Phật, con của người dì (Ud 3.2). Theo chú giải Tăng Chi Bộ, Nanda xuất gia đúng vào ngày làm lễ tấn phong và lễ cưới với nàng Janapadakalyāṇī, còn La-hầu-la xuất gia vào ngày thứ bảy Đức Phật ở lại kinh thành. Chú giải còn kể về sau vua Tịnh Phạn chứng A-la-hán dưới lọng trắng của vương vị rồi mới băng hà.
Về nhà sau khi đã đi xa
Câu chuyện này có lẽ gần với nhiều người hơn ta nghĩ. Một người con đi học xa, đi làm xa, rồi trở về với một cách sống khác: ăn chay, ngồi thiền, không còn thích những điều gia đình mong đợi. Cha mẹ có thể thấy xấu hổ, có thể đau lòng như vua Tịnh Phạn. Đức Phật không tranh cãi với cha. Ngài lặng lẽ đi khất thực như mọi ngày, trả lời bằng sự bình an, và lắng nghe nỗi đau của cha đến mức chế cả một điều luật. Bài Dạy con theo lời Phật có thêm vài gợi ý cho các bậc cha mẹ.
Một gợi ý nhỏ
Nếu có một người thân mà bạn đã lâu chưa về thăm, tuần này hãy viết cho họ vài dòng như Ngài Ca-lưu-đà-di: không trách móc, không nhắc bổn phận, chỉ kể về mùa này ở nơi bạn sống. Và nếu cách sống của bạn đã khác với mong đợi của gia đình, hãy thử lắng nghe nỗi lo của họ trước khi giải thích. Như vua Tịnh Phạn nói, tình thương con có khi chạm đến tận tủy.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Trưởng Lão Tăng Kệ 10.1, kệ của Trưởng lão Kāḷudāyī, Thag 10.1 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 1.225, phẩm Bậc Nhất, AN 1.219–234 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Đại Phẩm, chuyện La-hầu-la, Kd 1 trên SuttaCentral.
- Kinh Phật Tự Thuyết 3.2, Kinh Nanda, Ud 3.2 trên SuttaCentral.
- Pháp Cú 168, Dhp 167–178 trên SuttaCentral.
- Chuyện các sứ giả, con đường báu, trận mưa và việc Đức Phật khất thực trong thành Ca-tỳ-la-vệ: theo chú giải Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), tích truyện kệ 168, và chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī).
- Ngày xuất gia của Nanda và La-hầu-la, việc vua Suddhodana chứng A-la-hán: theo chú giải Tăng Chi Bộ (Manorathapūraṇī).
- Tên Yasodharā của mẹ La-hầu-la: theo truyền thống; Luật tạng gọi bà là mẹ của Rāhula.
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
- Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.