Chú giải Pháp Cú · Kệ 212 · Dhp 212

Tích Một Gia Trưởng Khóc Con

Aññatarakuṭumbikavatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 212 Kinh Pháp Cú, phẩm Hỷ Ái, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 212)

“Piyato jāyatī soko,
Piyato jāyatī , bhayaṃ;
Piyato vippamuttassa,
Natthi soko kuto bhayaṃ.”

“Do ái sinh sầu ưu,
Do ái sinh sợ hãi,
Ai thoát khỏi tham ái,
Không sầu, đâu sợ hãi?”
(Ngài HT Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết ra khi Ngài trú tại Jetavana, đề cập đến một người gia trưởng nọ.

Ông gia trưởng nầy quá buồn khổ vì cái chết của đứa con trai mình, hằng đi đến bãi tha ma mà than khóc kể lễ, nhưng không giảm được lòng thương nhớ con.

Đức Bổn Sư khi quán sát thế gian trong buổi sáng sớm, thấy ông gia trưởng có duyên đắc đạo Tu Đà Hườn. Sau khi đi khất thực về, Ngài cùng nhóm Sa môn tùy tùng đi đến nhà của gia trưởng ấy.

Nghe báo tin, có Đức Bổn Sư cùng chư Tăng ngự đến, ông tự nghĩ: Chắc Ngài muốn chuyện trò thân mật với ta.

Ông cung thỉnh Đức Thế Tôn và chư Tăng vào nơi được soạn sẵn, thỉnh ngồi xong, đảnh lễ Ngài và tự ngồi xuống một bên.

Đức Bổn Sư liền hỏi ông rằng:
- Nầy thiện nam, sao ông buồn vậy?
- Bạch Ngài! Con buồn vị cái chết của con con.

- Nầy Thiện nam! Ông chớ nên sầu muộn, cái mà chúng ta gọi là sự chết nầy, chẳng phải chỉ có ở nơi nầy, không phải chỉ có ở nơi kia, không phải chi để riêng cho một người. Mà để chung cho tất cả chúng sanh trong hoàn vũ. Không có một pháp hữu vi nào là thường tồn cả, bởi vậy không nên khóc than sầu muộn, mà trái lại phải chú ý quán xét về sự chết một cách hợp lý rằng: “Vật phải chết, vật phải tan rã đã tan rã rồi”

(Maranadhamman matam, bhijjadhammam bhinnam)

Các bậc hiền trí thuở xưa đã không than khóc khi đứa con yêu chết, mà chỉ dùng chánh niệm tham thiền quan tưởng rằng: Vật phải chết đã chết, vật phải tan rã đã tan rã.

- Bạch Ngài, bậc hiền trí nào đã làm như vậy? Và làm trong thời nào? Xin Ngài hoan hỷ giải rành cho con được biết.

Theo lời yêu cầu của gia trưởng, Đức Bổn Sư thuật Bổn Sanh bằng kệ ngôn rằng:

Cũng như con rắn lột bỏ da cũ, con người lột bỏ xác thân mà đi qua cảnh giới khác.

Trong xác thân trống rỗng bỏ lại có, người chết đã ra đi. Trong khi cái xác nó bị thiêu, nó không nghe lời than khóc của thân quyến. Bởi vậy, tôi không thương tiếc nó, mặc nó đi đâu thì đi.

Sau khi giải rộng Bổn sanh Uraga có năm chương. Đức Bổn Sư dạy tiếp: Thủơ xưa các bậc hiền trí đã xử sự như thế khi đứa con yêu chết, chớ không như ông bây giờ đã bỏ phế mọi việc trong nhà, bỏ cả ăn uống mà khóc than suốt ngày đâu. Chẳng những thế, các bậc hiền trí còn tham thiền quán tưởng đề mục chết, không buồn rấu khóc lóc, vẫn an uống như thường và chăm lo công việc của mình.

Vậy ông đừng ôm ấp ý nghĩ: “Đứa con thân yêu của ta đã chết” nữa. Sở dĩ có sự buồn khổ ấy nổi lên, chỉ vì nó có chỗ nương là tình yêu mới dấy lên được.

Rồi Ngài ngâm lên bài kệ rằng:

“Piyato jāyatī soko,
Piyato jāyatī , bhayaṃ;
Piyato vippamuttassa,
Natthi soko kuto bhayaṃ.”

“Do ái sinh sầu ưu,
Do ái sinh sợ hãi,
Ai thoát khỏi tham ái,
Không sầu, đâu sợ hãi?”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Sự ưu tư, sự sợ hãi là nguồn gốc của vòng sanh tử luân hồi, sau khi sanh lên, bao giờ cũng nương theo sự ái luyến người và vật mà sanh lên. Một khi đã giải thoát sự thân ái rồi tự nhiên cả hai thứ phiền não trên đây không có nữa.

Cuối thời Pháp, ông gia trưởng mất con chứng đắc quả Tu Đà Hườn. Kỳ dư thính chúng đều hưởng sự lợi ích từ pháp thoại.

Con sớm chết đi để lại cha
Khóc thương măng trẻ, tội cha già
Ngày ngày bỏ ngủ, thâm rừng xác
Bửa bửa quên ăn, phế việc nhà
Kiếp trước tạo duyên lành cúng Phật.
Đời nầy rãnh nợ khổ tìm ma
Luyến lưu dứt được nhờ nghe Pháp
Đắc quả đầu tiên lúc tại gia.

DỨT TÍCH TRƯỞNG GIẢ KHÓC CON

Aññatarakuṭumbikavatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Piyato jāyatīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto aññataraṃ kuṭumbikaṃ ārabbha kathesi.

So hi attano putte kālakate puttasokābhibhūto āḷāhanaṃ gantvā rodati, puttasokaṃ sandhāretuṃ na sakkoti. Satthā paccūsakāle lokaṃ volokento tassa sotāpattimaggassūpanissayaṃ disvā piṇḍapātapaṭikkanto ekaṃ pacchāsamaṇaṃ gahetvā tassa gehadvāraṃ agamāsi. So satthu āgatabhāvaṃ sutvā “mayā saddhiṃ paṭisanthāraṃ kātukāmo bhavissatī”ti satthāraṃ pavesetvā gehamajjhe āsanaṃ paññāpetvā satthari nisinne āgantvā ekamantaṃ nisīdi. Atha naṃ satthā “kiṃ nu kho, upāsaka, dukkhitosī”ti pucchitvā tena puttaviyogadukkhe ārocite, “upāsaka, mā cintayi, idaṃ maraṇaṃ nāma na ekasmiṃyeva ṭhāne, na ca ekasseva hoti, yāvatā pana bhavuppatti nāma atthi, sabbasattānaṃ hotiyeva. Ekasaṅkhāropi nicco nāma natthi. Tasmā ‘maraṇadhammaṃ mataṃ, bhijjanadhammaṃ bhinna’nti yoniso paccavekkhitabbaṃ, na socitabbaṃ. Porāṇapaṇḍitāpi hi puttassa matakāle ‘maraṇadhammaṃ mataṃ, bhijjanadhammaṃ bhinna’nti sokaṃ akatvā maraṇassatimeva bhāvayiṃsū”ti vatvā, “bhante, ke evamakaṃsu, kadā ca akaṃsu, ācikkhatha me”ti yācito tassatthassa pakāsanatthaṃ atītaṃ āharitvā –

“Uragova tacaṃ jiṇṇaṃ, hitvā gacchati saṃ tanuṃ;
Evaṃ sarīre nibbhoge, pete kālakate sati.

“Ḍayhamāno na jānāti, ñātīnaṃ paridevitaṃ;
Tasmā etaṃ na socāmi, gato so tassa yā gatī”ti. (jā. 1.5.19-20) –

Imaṃ pañcakanipāte uragajātakaṃ vitthāretvā “evaṃ pubbe paṇḍitā piyaputte kālakate yathā etarahi tvaṃ kammante vissajjetvā nirāhāro rodanto vicarasi, tathā avicaritvā maraṇassatibhāvanābalena sokaṃ akatvā āhāraṃ paribhuñjiṃsu, kammantañca adhiṭṭhahiṃsu. Tasmā ‘piyaputto me kālakato’ti mā cintayi. Uppajjamāno hi soko vā bhayaṃ vā piyameva nissāya uppajjatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Piyato jāyatī soko, piyato jāyatī bhayaṃ;
Piyato vippamuttassa, natthi soko kuto bhaya”nti.

Tattha piyatoti vaṭṭamūlako hi soko vā bhayaṃ vā uppajjamānaṃ piyameva sattaṃ vā saṅkhāraṃ vā nissāya uppajjati, tato pana vippamuttassa ubhayampetaṃ natthīti attho.

Desanāvasāne kuṭumbiko sotāpattiphale patiṭṭhahi, sampattānampi sātthikā dhammadesanā ahosīti.

Aññatarakuṭumbikavatthu dutiyaṃ.

XVI. 2. The Buddha comforts the Afflicted

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

212. From thought of one that is dear, arises sorrow;
From thought of one that is dear, arises fear.
He that is free from thought of dear ones neither sorrows nor fears.

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to a certain layman.

The story goes that this layman, on losing his son, was so overwhelmed with grief that he went every day to the burning-ground and wept, being unable to restrain his grief. As the Teacher surveyed the world at dawn, he saw that the layman had the faculties requisite for Conversion. So when he came back from his alms-round, he took one attendant monk and went to the layman’s door. When the layman heard that the Teacher had come to his house, he thought to himself, “He must wish to exchange the usual compliments of health and civility with me.” So he invited the Teacher into his house, provided him with a seat in the house-court, and when the Teacher had taken his seat, approached him, saluted him, and sat down respectfully on one side.

At once the Teacher asked him, “Layman, why are you sad?” “I have lost my son; therefore am I sad,” replied the layman. Said the Teacher, “Grieve not, layman. That which is called death is not confined to one place or to one person, but is common to all creatures who are born into the world. Not one of the Elements of Being is permanent. Therefore one should not give himself up to sorrow, but should rather take a reasonable view of death, even as it is said, ‘Mortality has suffered mortality, dissolution has suffered dissolution.’

“For wise men of old sorrowed not over the death of a son, but applied themselves diligently to meditation upon death, saying to themselves, ‘Mortality has suffered mortality, dissolution has suffered dissolution.’ ” The layman asked the Teacher, “Reverend Sir, who were they that did this? When was it that they did this? Pray tell me about it.” So to make the matter clear, the Teacher related the following Story of the Past:

Even as a snake casts off his old skin, so a man casts off his own body and goes to the other world;
Even so fares his body, deprived of the capacity of enjoyment, when he is dead and gone.

The while his body burns, he hears not the lamentation of his kinsmen;
Therefore is it that I grieve not for him; he is gone whither it was his lot to go.

When the Teacher had related in detail this Uraga Jātaka, found in the Fifth Book, he continued as follows, “In times past wise men did not do as you are doing on the death of a son. You have abandoned your wonted occupations, have deprived yourself of food, and spend your time in lamentation. Wise men of old did not so. On the contrary, they applied themselves diligently to meditation upon death, would not allow themselves to grieve, ate their food as usual, and attended to their wonted occupations. Therefore grieve not at the thought that your dear son is dead. For whether sorrow or fear arises, it arises solely because of one that is dear.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza,

212. From thought of one that is dear, arises sorrow;
From thought of one that is dear, arises fear.
He that is free from thought of dear ones neither sorrows nor fears.

  1. This story is similar to the Introduction to Jātaka 354: iii. 162-168. Text: N iii. 276-278.
  2. Jātaka 354: 162-168. Ed. note: the story tells of a close and loving family who loose one of their beloved members but do not grieve, so strong has been their meditation on death. Sakka rewards them for their virtue.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp cùng chủ đề

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này