Chú giải Pháp Cú · Kệ 213 · Dhp 213

Tích Tín Nữ Visākhā Khóc Cháu Gái

Visākhāvatthu

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 213 Kinh Pháp Cú, phẩm Hỷ Ái, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.

Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli

KỆ NGÔN: (Pháp Cú câu 213)

“Pemato jāyatī soko,
Pemato jāyatī bhayaṃ;
Pemato vippamuttassa,
Natthi soko kuto bhayaṃ.”

“Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái luyến sinh sợ hãi.
Ai giải thoát ái luyến
Không sầu, đâu sợ hãi?”
(Ngài HT Minh Châu)

Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư thuyết khi Ngài trú tại Jetavana, đề cập đến Bà Visākhā.

Tương truyền rằng: Bà Visākhā thường giao phó cho cô cháu gái tên là Sudattī là cháu nội, thay bà mà lo việc hộ Tăng ở nhà bà. Một thời gian sau, cô ấy chết, sau khi an táng xác cháu gái rồi, bà không thể ngăn được khổ sầu, liền đi đến bái yết Đức Bổn Sư và ngồi khóc, mặt tràn đầy nước mắt, trông nó có vẻ sầu thảm.

- Nầy Visākhā! Vì sao ngươi lại sầu thảm như vậy?

Bà Visākhā tỏ thật tâm trạng mình, rồi nói rằng:

- Bạch Ngài! Đứa cháu gái thân yêu của con đã chết, nó có nết hạnh đoan trang, thành tín. Con sẽ không còn gặp được người cháu gái như thế nữa đâu.

- Nầy Visākhā! Trong thành Sāvatthī nầy có được bao nhiêu người?

- Bạch Ngài! Con nghe Ngài nói: Trong thành Sāvatthī có được 70 triệu người.

- Nếu tất cả số nầy đều đáng được nàng yêu như cháu gái của nàng, nàng có đồng ý chăng?

- Bạch Ngài, con đồng ý.

- Hằng ngày trong thành Sāvatthī nầy có bao nhiêu người chết?

- Bạch Ngài! Nhiều lắm.

- Nếu vậy, ngươi phải khóc than suốt cả ngày lẫn đêm, chứ không có lúc nào vơi khổ được phải chăng?

- Bạch Ngài! Con đã hiểu ý Ngài rồi.

Đức Thế Tôn khuyên nhủ bà Visākhā:

- Vậy thì, ngươi đừng phiền muộn nữa. Sự ưu tư hoặc sự sợ hãi đều từ luyến ái mà sanh ra.

Rồi Ngài nói lên kệ ngôn rằng:

“Pemato jāyatī soko,
Pemato jāyatī bhayaṃ;
Pemato vippamuttassa,
Natthi soko kuto bhayaṃ.”

“Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái luyến sinh sợ hãi.
Ai giải thoát ái luyến
Không sầu, đâu sợ hãi?”
(Ngài HT Minh Châu)

CHÚ GIẢI:

Pemato: Sự luyến ái, tiếc thương con cái đã mất.

Ngoài chữ pemato nầy, ý nghĩa kệ ngôn nầy giống như câu kệ trên.

Cuối thời Pháp nhiều người đắc Thánh Quả, nhất là Dự Lưu.

Buồn thay tín nữ Visākhā
Khóc cháu còn xuân, đủ nết na
Góp mặt, chung lòng làm thí chủ
Thay tay để bát họ Tăng Già
Bóng tiền đã vắng nơi trần tục
Người dại càng thân chỗ xuất gia
Phật dạy: Khổ sanh từ luyến ái
Không yêu, lo sợ chẳng sanh mà.

DỨT TÍCH BÀ VISĀKHĀ KHÓC CHÁU

Visākhāvatthu

Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka

Pemato jāyatīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto visākhaṃ upāsikaṃ ārabbha kathesi.

Sā kira puttassa dhītaraṃ sudattaṃ nāma kumārikaṃ attano ṭhāne ṭhapetvā gehe bhikkhusaṅghassa veyyāvaccaṃ kāresi. Sā aparena samayena kālamakāsi. Sā tassā sarīranikkhepaṃ kāretvā sokaṃ sandhāretuṃ asakkontī dukkhinī dummanā satthu santikaṃ gantvā vanditvā ekamantaṃ nisīdi. Atha naṃ satthā “kiṃ nu kho tvaṃ, visākhe, dukkhinī dummanā assumukhā rodamānā nisinnā”ti āha. Sā tamatthaṃ ārocetvā “piyā me, bhante, sā kumārikā vattasampannā, idāni tathārūpaṃ na passāmī”ti āha. “Kittakā pana, visākhe, sāvatthiyaṃ manussā”ti? “Bhante, tumhehiyeva me kathitaṃ satta janakoṭiyo”ti. “Sace panāyaṃ ettako jano tava nattāya sadiso bhaveyya, iccheyyāsi na”nti? “Āma, bhante”ti. “Kati pana janā sāvatthiyaṃ devasikaṃ kālaṃ karontī”ti? “Bahū, bhante”ti. “Nanu evaṃ, bhante, tava asocanakālo na bhaveyya, rattindivaṃ rodantīyeva vicareyyāsī”ti. “Hotu, bhante, ñātaṃ mayā”ti. Atha naṃ satthā “tena hi mā soci, soko vā bhayaṃ vā pematova jāyatī”ti vatvā imaṃ gāthamāha –

“Pemato jāyatī soko, pemato jāyatī bhayaṃ;
Pemato vippamuttassa, natthi soko kuto bhaya”nti.

Tattha pematoti puttadhītādīsu kataṃ pemameva nissāya soko jāyatīti attho.

Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.

Visākhāvatthu tatiyaṃ.

XVI. 3. The Buddha comforts the Afflicted

Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)

213. From affection springs grief...

This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the female lay disciple Visākhā.

The story goes that Visākhā used to permit her son’s daughter, a maiden named Datta, to minister to the monks in her house when she was absent. After a time Datta died. Visākhā attended to the deposition of her body, and then, unable to control her grief, went sad and sorrowful to the Teacher, and having saluted him, sat down respectfully on one side. Said the Teacher to Visākhā, “Why is it, Visākhā, that you sit here sad and sorrowful, with tears in your eyes, weeping and wailing?” Visākhā then explained the matter to the Teacher, saying, “Reverend Sir, the girl was very dear to me and she was faithful and true; I shall not see the like of her again.”

“But, Visākhā, how many inhabitants are there in Sāvatthi?” “I have heard you say, Reverend Sir, that there are seventy millions.” “But suppose all these persons were as dear to you as was Datta; would you like to have it so?” “Yes, Reverend Sir.” “But how many persons die every day in Sāvatthi?” “A great many, Reverend Sir.” “In that case it is certain that you would lack time to satisfy your grief; you would go about both by night and by day, doing nothing but wail.” “Certainly, Reverend Sir; I quite understand.” Then said the Teacher, “Very well, do not grieve. For whether it be grief or fear, it springs solely from affection.” So saying, the Teacher pronounced the following Stanza,

213. From affection springs grief; from affection springs fear.
He that is free from affection neither sorrows nor fears.

  1. This story is derived from Udāna, viii. 8: 91-92. Text: N iii. 278-279.

Biên tập trang: Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 4, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
  2. Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
  3. Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
  4. Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.

Bài Hỏi đáp có dẫn kệ này