Kisāgotamī và hạt cải: từ nỗi đau mất con đến sự an tịnh
Nhiều người Việt biết chuyện người mẹ ôm xác con đi xin hạt cải. Câu chuyện ấy đến từ chú giải. Lời của chính Ni sư Kisāgotamī thì được giữ trong Trưởng Lão Ni Kệ, và cũng cảm động không kém.
Câu chuyện hạt cải, theo chú giải
Phần này được kể theo chú giải Pháp Cú (tích truyện của kệ 114) và chú giải Trưởng Lão Ni Kệ, không phải lời kinh. Ở thành Xá-vệ có một thiếu phụ nhà nghèo tên Gotamī, người gầy nên được gọi là Kisāgotamī, “Gotamī gầy”. Bà lấy chồng, sinh một con trai và được nhà chồng quý trọng. Đứa bé vừa biết đi thì mất. Không chấp nhận sự thật, bà ôm xác con đi khắp nơi xin thuốc. Có người chỉ bà đến gặp Đức Phật.
Đức Phật nói Ngài biết thuốc: bà hãy xin một ít hạt cải, nhưng phải từ một nhà chưa từng có ai chết. Bà đi từng nhà. Ai cũng sẵn lòng cho hạt cải, nhưng nhà nào cũng có người đã mất: người cha, người vợ, đứa con. Đến chiều, bà hiểu ra: cái chết không chừa nhà nào. Bà mang con đến bãi tha ma, rồi trở lại gặp Đức Phật và xin xuất gia. Chú giải kể về sau, khi ngồi nhìn những ngọn đèn cháy lên rồi tắt, bà nghe Đức Phật nói bài kệ:
Ai sống một trăm năm,
Pháp Cú, kệ 114
Không thấy câu bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử.
Bài kệ trên là lời kinh; khung cảnh ngọn đèn là theo chú giải. Bạn có thể đọc kệ này tại Pháp Cú phẩm Ngàn, kệ 114.
Điều làm câu chuyện sống mãi là cách Đức Phật đối xử với một người mẹ đang tuyệt vọng. Ngài không giảng về vô thường, không bảo bà đừng khóc. Ngài cho bà một việc để làm, và để chính bà đi qua từng ngôi nhà mà thấy.
Lời của chính Ni sư, trong kinh
Trưởng Lão Ni Kệ giữ lại mười một bài kệ của Ni sư Kisāgotamī. Bà mở đầu không phải bằng nỗi đau, mà bằng tình bạn:
Bạn lành được ẩn sĩ,
Trưởng Lão Ni Kệ 10.1, kệ 1
Khắp thế giới, ngợi khen,
Thân cận với bạn lành,
Kẻ ngu thành người trí.
Bà nói tiếp: nên thân cận người hiền, vì thân cận như vậy thì trí tuệ lớn lên, có thể thoát khỏi mọi khổ đau, hiểu khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường tám chi phần (kệ 2–3). Các câu kệ giữa kể nỗi mất mát của một người phụ nữ: trên đường về nhà sắp sinh thì thấy chồng chết, sinh con ngay bên đường, hai con đều mất, cha mẹ và anh trai cùng cháy trên một giàn hỏa (kệ 6–7). Rồi một lời đáp: “Hỡi người khốn khổ mất cả gia đình, nỗi khổ người đã chịu không thể đo lường; nước mắt người đã tuôn qua nhiều nghìn kiếp sống” (kệ 8).
Kết thúc là sự an tịnh: “Tôi đã tu tập con đường Thánh tám chi phần dẫn đến bất tử, đã chứng ngộ Niết-bàn, đã soi mình trong tấm gương Pháp. Tôi đã nhổ mũi tên, đã đặt gánh nặng xuống, đã làm xong việc cần làm” (kệ 10–11).
“Tôi đã vượt qua cái chết của con”
Tương Ưng Bộ 5.3 kể một hôm, sau bữa ăn, Ni sư vào rừng Andhavana ngồi thiền một mình dưới gốc cây (SN 5.3, đoạn 1.3–1.4). Ma vương muốn làm bà sợ, hiện đến chế giễu: “Sao ngươi ngồi một mình, mặt đẫm nước mắt, như người mất con?” (SN 5.3, đoạn 2.1–2.2). Bà nhận ra Ma vương và đáp:
Con hại, đã qua rồi,
Tương Ưng Bộ 5.3, đoạn 5.1, 5.3–5.4
Đàn ông đã chấm dứt,
Ta không sầu, không khóc,
Ta sợ gì các Ông?
Câu này không phải lời của một người lạnh lùng. Đó là lời của một người đã đi qua tận đáy nỗi đau và tìm được chỗ đứng vững. Tăng Chi Bộ ghi bà là bậc nhất trong các Tỷ-kheo-ni mặc y thô (AN 1.246, đoạn 1.1).
Cho người đang mất người thân
Nếu bạn đang mang một nỗi mất mát, câu chuyện này không đòi bạn phải hết buồn ngay. Kisāgotamī đã đi trọn một ngày dài với đứa con trên tay. Điều giúp bà là những người tử tế trên đường, một người chỉ lối, và sự thật được tự mình thấy chứ không phải bị ép nghe. Bài Mất người thân, Phật dạy gì có thêm những lời kinh nâng đỡ, và Kinh Ngoài Bức Tường chỉ cách hồi hướng cho người đã khuất.
Một gợi ý nhỏ
Nếu bên cạnh bạn có người vừa mất người thân, tuần này hãy đến ngồi với họ, mang theo một món ăn, và lắng nghe nhiều hơn nói. Còn với chính mình, bạn có thể đọc chậm kệ 1 của Ni sư Kisāgotamī, rồi nghĩ đến một người bạn lành đã từng ở bên mình lúc khó khăn.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Trưởng Lão Ni Kệ 10.1, kệ của Trưởng lão Ni Kisāgotamī, Thig 10.1 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 5.3, Kinh Kisāgotamī, SN 5.3 trên SuttaCentral.
- Pháp Cú 114, Dhp 100–115 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 1.246, phẩm Bậc Nhất, AN 1.235–247 trên SuttaCentral.
- Chuyện hạt cải: theo chú giải Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā, tích truyện kệ 114) và chú giải Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā-aṭṭhakathā).
- Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.