Giàu thật sự theo lời Phật: bảy tài sản mà lửa, nước, trộm cướp không lấy được
Hỏi “làm giàu chân chánh theo Phật” thường dẫn đến chuyện kiếm tiền sao cho đúng, và web này đã có bốn bài về việc ấy. Bài này đi một hướng khác: khi có người trầm trồ về một nhà giàu, Đức Phật đã nói gì về chữ “tài sản”.
Một nhà giàu khiến người ta trầm trồ
Ugga là một vị đại thần của vua. Ông đến gặp Đức Phật và thán phục một người giàu tên Migāra Rohaṇeyya: nhà ấy có vàng đến trăm ngàn, chưa kể bạc (AN 7.7:2.1–2.4). Đức Phật trả lời bằng hai câu đáng đọc chậm. Câu thứ nhất: “Không phải Ta nói rằng đây không phải là tài sản” (AN 7.7:2.5; Pāli: netaṁ ‘natthī’ti vadāmīti). Câu thứ hai: “Nhưng tài sản ấy bị chi phối bởi lửa, nước, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự, thù địch” (AN 7.7:2.6; Pāli: Tañca kho etaṁ, ugga, dhanaṁ sādhāraṇaṁ agginā udakena rājūhi corehi appiyehi dāyādehi).
Theo cách đọc của người viết, hai câu đi cùng nhau. Đức Phật công nhận tiền của là tài sản, rồi chỉ ra nó mong manh ở chỗ nào: cháy, lụt, bị đánh thuế hoặc tịch thu, bị trộm, bị người thừa kế hay kẻ thù giành mất.
Bảy tài sản kinh nêu
Ngay sau đó Ngài nói có bảy tài sản mà lửa, nước, vua chúa, trộm cướp, người thừa tự và kẻ thù không chi phối được (AN 7.7:2.7). Bảy tài sản ấy: “Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài” (AN 7.7:2.9; Pāli: Saddhādhanaṁ, sīladhanaṁ, hirīdhanaṁ, ottappadhanaṁ, sutadhanaṁ, cāgadhanaṁ, paññādhanaṁ). Kinh Các Tài Sản Rộng Thuyết (AN 7.6) giải thích từng loại. Lần đầu gặp mỗi chữ Pāli, bài này giải nghĩa ngắn gọn theo kinh:
- Tín tài (saddhā): niềm tin vào sự giác ngộ của Đức Phật (AN 7.6:2.2).
- Giới tài (sīla): từ bỏ sát sanh và các điều kế tiếp, cho đến từ bỏ đắm say rượu (AN 7.6:3.2).
- Tàm tài (hirī): biết xấu hổ với việc ác của thân, lời, ý (AN 7.6:4.2).
- Quý tài (ottappa): biết sợ việc ác của thân, lời, ý (AN 7.6:5.2).
- Văn tài (suta): nghe nhiều, nhớ và thấm điều đã nghe (AN 7.6:6.2).
- Thí tài (cāga): cho đi. Kinh tả vị Thánh đệ tử sống tại gia “với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở, ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí” (AN 7.6:7.2; Pāli: vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vosaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato). Xan tham nghĩa là keo kiệt.
- Tuệ tài (paññā): trí tuệ thấy sự sinh diệt, đưa đến diệt khổ (AN 7.6:8.2).
Theo cách đọc của người viết, trong bảy loại này chỉ có thí tài trực tiếp dính đến tiền bạc, và kinh đặt nó trong nếp sống tại gia chứ không đòi bỏ nhà bỏ cửa.
Người có bảy tài sản này được gọi là gì
Kinh AN 7.6 kết bằng một bài kệ: “Ai có những tài này, / Nữ nhân hay nam nhân, / Được gọi không nghèo khổ, / Mạng sống không trống rỗng” (AN 7.6:11.1–11.4; Pāli: Yassa ete dhanā atthi, itthiyā purisassa vā; adaliddoti taṁ āhu, amoghaṁ tassa jīvitaṁ). Chữ Pāli adaliddo là không nghèo, không thiếu thốn; kinh dùng nó cho người có đủ bảy tài sản này, không phân biệt đàn ông hay phụ nữ.
Thử hình dung anh Phát có tiệm sửa xe đông khách. Một đêm tiệm cháy, hàng hóa mất hết. Tiền thì mất, nhưng tay nghề, tiếng tốt với khách quen và thói quen sống thật vẫn còn. Anh Phát là ví dụ của người viết, không có trong kinh; nó chỉ để thấy vì sao kinh nói có loại tài sản lửa không lấy được.
Vậy còn chuyện kiếm tiền
Kinh không bảo bỏ chuyện kiếm tiền. Muốn biết nghề nào nên tránh và cách làm ăn chân chánh, xem bài Làm ăn, buôn bán đúng chánh mạng. Muốn biết người tại gia có được giàu không, xem bài Phật tử có được giàu không. Về chuyện giữ và chia tiền, có bài Tiết kiệm và bố thí, và nếu đang mắc nợ thì có bài Nợ nần, áp lực tiền bạc. Bài này chỉ thêm một câu hỏi: ngoài tiền, bạn đang có những loại tài sản nào trong bảy loại trên?
Một gợi ý nhỏ
Đây là gợi ý của người viết, ngoài lời kinh. Viết bảy chữ tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ ra giấy, đánh dấu loại bạn thấy mình đang ít nhất, và tuần này chọn một việc nhỏ để bồi cho loại đó.
Hỏi nhanh
Đức Phật có chê của cải không?
Trong AN 7.7, khi Ugga khen một nhà giàu, Đức Phật nói rằng Ngài không nói đó không phải là tài sản (AN 7.7:2.5). Ngài chỉ nói loại tài sản ấy bị lửa, nước, vua chúa, trộm cướp, người thừa tự, kẻ thù chi phối (AN 7.7:2.6).
Bảy tài sản theo kinh gồm những gì?
Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài (AN 7.7:2.9; AN 7.6:1.3).
Người có bảy tài sản này có còn nghèo không?
AN 7.6:11.3 gọi người có những tài sản ấy là không nghèo khổ, dù là nam hay nữ.
Muốn kiếm tiền đúng cách thì đọc gì?
Bài này không nói cách kiếm tiền. Xem bài Làm ăn, buôn bán đúng chánh mạng và bài Phật tử có được giàu không trên Hoan Hỉ.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 7.7, Kinh Ugga (Ugga Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 7.7 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 7.7 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 7.6, Kinh Các Tài Sản Rộng Thuyết (Vitthatadhana Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 7.6 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 7.6 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Câu mở đầu lời đáp của Đức Phật trong bản Minh Châu được dịch thành câu hỏi, còn câu Pāli là câu khẳng định, nên bài chỉ trích phần sau của câu ấy (AN 7.7:2.5) và câu 2.6. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli là tóm ý. Anh Phát là ví dụ của người viết, không có trong kinh.