Bố thí và phước

Hồi hướng cầu bình an thế nào? Lời mong cầu tốt đẹp và nếp sống thiện làm nên bình an

Theo kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, tức ngôn ngữ cổ mà kinh gốc được ghi lại, người làm việc thiện tự nhận quả của việc làm ấy. Lời hồi hướng cầu bình an là lòng mong cầu tốt đẹp dành cho người thân còn sống. Bình an thật sự đến từ nếp sống thiện được giữ đều trong đời sống hằng ngày.

Tóm lại: Kinh Bữa Ăn ghi người bố thí đem lại cho người nhận thọ mạng, dung sắc (giải nghĩa của người viết: vẻ ngoài tươi tốt), an lạc, sức mạnh và biện tài (giải nghĩa của người viết: tài đối đáp lưu loát) (AN 5.37, đoạn 1.3). Kinh Jāṇussoṇi ghi người bố thí không phải không có hưởng quả (AN 10.177, đoạn 9.3). Theo cách đọc của người viết, hồi hướng cầu bình an là mong cầu tốt đẹp sau việc thiện, còn bình an đến từ nếp sống thiện, không phải từ một lời cầu có sức mạnh riêng.

Việc bố thí đem lại lợi ích cho người nhận

Kinh Bữa Ăn thuộc Tăng Chi Bộ nói về việc bố thí bữa ăn và lợi ích mà việc bố thí ấy đem lại cho người nhận. Điều này quan trọng với câu hỏi của bạn, vì hồi hướng thường bắt đầu sau một việc thiện như bố thí, đọc kinh hay giúp đỡ người khác. Kinh ghi rõ: “Người bố thí bữa ăn, này các Tỷ-kheo, người thí chủ đem lại cho người thọ lãnh năm điều. Thế nào là năm?” (AN 5.37:1.1–1.2; Pāli: Bhojanaṁ, bhikkhave, dadamāno dāyako paṭiggāhakānaṁ pañca ṭhānāni deti. Katamāni pañca?)

Năm điều mà người bố thí đem lại được kinh nêu tiếp theo cho thấy việc thiện không phải là việc mất đi mà không còn gì. Kinh ghi rõ: “Cho thọ mạng, cho dung sắc, cho an lạc, cho sức mạnh, cho biện tài.” (AN 5.37:1.3; Pāli: Āyuṁ deti, vaṇṇaṁ deti, sukhaṁ deti, balaṁ deti, paṭibhānaṁ deti) Theo cách đọc của người viết, trong năm điều ấy, an lạc là điều gần nhất với điều bạn mong cầu khi nói đến bình an cho gia đình. Bạn có thể đọc thêm về bố thí tại Bố thí là gì? Cho đi với tâm tốt theo lời kinh. Khi bạn hiểu việc thiện tự nó đã đem lại lợi ích, bạn sẽ không còn xem hồi hướng như một phép đổi chác để lấy bình an.

Người làm việc thiện tự hưởng quả của việc làm ấy

Kinh Jāṇussoṇi thuộc Tăng Chi Bộ ghi lại câu trả lời của Đức Phật cho một vị Bà-la-môn (giải nghĩa của người viết: người thuộc giai cấp tu sĩ Bà-la-môn) hỏi về việc bố thí cho người đã mất. Dù câu hỏi gốc liên quan đến người đã mất, theo cách đọc của người viết, phần kết của bài kinh có thể được hiểu như một nguyên tắc chung mà bạn có thể áp dụng cho việc hồi hướng cầu bình an cho người còn sống. Nguyên tắc ấy là người làm việc thiện không làm việc ấy một cách vô ích, vì việc thiện tự nó có quả của nó. Kinh ghi rõ: “Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.” (AN 10.177:9.3; Pāli: Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphaloti)

Theo cách đọc của người viết, nguyên tắc này giúp bạn đặt hồi hướng đúng chỗ. Bạn làm việc thiện trước, rồi sau đó khởi tâm mong cầu tốt đẹp cho người thân, chứ không phải chỉ đọc một lời cầu mà mong bình an tự đến. Bạn có thể đọc thêm về cầu an tại Cầu an, cầu siêu theo Nam truyền: sức mạnh của sự thật, tâm từ và việc thiện. Khi bạn giữ thứ tự này, hồi hướng trở thành một việc làm có nền tảng, không phải một lời nói suông.

Kinh không có công thức hồi hướng cầu bình an cho người sống

Cần nói thẳng một điều, đó là kinh Nikāya không có công thức hồi hướng cầu bình an dành riêng cho người còn sống. Lời hồi hướng cụ thể mà nhiều người vẫn đọc sau khi đọc kinh xong là tục lệ, không phải lời kinh, và bài viết này không gán tục lệ ấy cho Đức Phật. Điều này không có nghĩa là bạn không được hồi hướng, mà chỉ có nghĩa là bạn nên hiểu lời hồi hướng của bạn là lòng mong cầu tốt đẹp, chứ không phải một công thức có sức mạnh riêng để bảo đảm tai qua nạn khỏi hay chữa lành bệnh tật.

Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Một người sau khi đọc kinh buổi sáng đã khởi tâm mong cho cha mẹ được khỏe mạnh và gia đình được yên ổn, rồi trong ngày người ấy vẫn chăm sóc cha mẹ, nói lời nhẹ nhàng và làm việc cẩn thận. Theo cách đọc của người viết, lời mong cầu buổi sáng chỉ là khởi đầu, còn bình an trong ngày đến từ những việc làm cụ thể ấy. Nếu bạn đang gặp khó khăn rất lớn trong đời sống, bạn nên tìm đến người thân hoặc người có chuyên môn để được hỗ trợ thêm, thay vì chỉ trông chờ vào một lời cầu.

Đọc kinh xong, người Phật tử hồi hướng ra sao trong đời thường

Sau khi đọc kinh hay làm một việc thiện, bạn có thể ngồi yên một lúc, nhớ lại việc thiện bạn vừa làm và khởi tâm mong cho người thân còn sống được an lạc và khỏe mạnh. Bạn không cần đọc một bài văn dài hay đúng từng chữ, vì kinh không quy định văn bản ấy. Điều quan trọng là tâm mong cầu của bạn phải chân thật và đi kèm với quyết tâm sống thiện trong ngày hôm đó, chẳng hạn như giữ lời nói cẩn thận, giúp đỡ người thân khi có thể và tránh làm điều gây hại cho người khác.

Bạn có thể đọc thêm về cách giữ tâm an tại Làm sao để tâm an? Đừng bắn mũi tên thứ hai và đổi sang tướng thiện. Theo cách đọc của người viết, hồi hướng như vậy vừa giữ được lòng thương đối với người thân, vừa không rơi vào việc hứa hẹn rằng một lời cầu sẽ thay đổi mọi chuyện. Khi bạn làm việc thiện đều đặn và hồi hướng bằng tâm chân thật, bình an sẽ dần hiện ra trong nếp sống của bạn và của gia đình bạn.

Hỏi nhanh

Đọc kinh xong hồi hướng cầu bình an cho gia đình thì nên hiểu thế nào?

Bạn nên hiểu lời hồi hướng là lòng mong cầu tốt đẹp sau việc thiện, còn bình an đến từ nếp sống thiện được giữ đều hằng ngày.

Bố thí bữa ăn đem lại gì cho người nhận?

Kinh Bữa Ăn ghi người bố thí đem lại cho người nhận thọ mạng, dung sắc, an lạc, sức mạnh và biện tài (AN 5.37, đoạn 1.3).

Người làm việc thiện có hưởng quả không?

Có, kinh Jāṇussoṇi ghi người bố thí không phải không có hưởng quả (AN 10.177, đoạn 9.3).

Có công thức hồi hướng cầu bình an nào trong kinh không?

Không, kinh Nikāya không có công thức hồi hướng cầu bình an cho người sống. Lời hồi hướng cụ thể là tục lệ, không phải lời kinh.

Câu chốt: Hồi hướng cầu bình an là mong cầu tốt đẹp sau việc thiện, còn bình an thật sự đến từ nếp sống thiện bạn giữ đều mỗi ngày.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 5.37, Kinh Bữa Ăn (Bhojana Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.37 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.37 Pāli.
  2. Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇi Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 10.177 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 10.177 Pāli.
  3. Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.

Bài kinh liên quan trên Hoan Hỉ

Đọc thêm