Hôn nhân theo Phật giáo: vợ chồng sống với nhau thế nào cho hạnh phúc?
Theo kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, hôn nhân hạnh phúc không nằm ở lễ cưới hay tuổi tác mà nằm ở chỗ vợ chồng cùng có tín, giới, thí và tuệ, cùng làm tròn bổn phận với nhau. Kinh không quy định lễ cưới, tuổi kết hôn hay thủ tục, mà chỉ ra điều gì làm một mái nhà an ổn.
Kinh Nikāya nói gì về hôn nhân và điều kinh không quy định
Người đọc thường hỏi kinh dạy gì về hôn nhân, và câu trả lời thẳng là kinh Nikāya không bàn lễ cưới, không quy định tuổi kết hôn và không đặt ra thủ tục nào cho việc thành hôn. Kinh nói về cách hai người sống chung với nhau sau khi đã thành vợ chồng, về giới hạnh của từng người và về bổn phận hai bên dành cho nhau. Ai tìm trong kinh một nghi thức cưới hỏi sẽ không thấy, và người viết nói thẳng điều đó để bạn không đọc thêm phong tục vào lời kinh.
Bài này gom các kinh Nikāya nói về đời sống vợ chồng thành một bài tổng hợp: bốn kiểu sống chung, bảy loại vợ, bổn phận của chồng và vợ, và điều làm hai người cùng đi lâu dài. Các kinh được dẫn đều thuộc Tăng Chi Bộ Kinh và Trường Bộ Kinh. Người viết cũng lưu ý rằng các bài kinh dẫn trong bài này đều nói về người tại gia, không nói về đời sống xuất gia, nên bạn không nên lấy chuẩn của người xuất gia áp vào đời sống vợ chồng.
Bốn điều vợ chồng cùng có theo Kinh Vợ Chồng Sống Chung
Câu chuyện mở đầu cho bài kinh này là đôi vợ chồng Nakula đến bạch với Đức Phật. Họ sống chung thủy với nhau và mong muốn được thấy mặt nhau trong đời này lẫn đời sau. Lời của họ được ghi lại như sau: “Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.” (AN 4.55:2.2; Pāli: Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitunti)
Câu trả lời của Đức Phật không hứa hẹn một phép màu nào mà chỉ ra bốn điều hai người cùng có. Lời dạy đó được ghi lại như sau: “khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.” (AN 4.55:3.1; Pāli: Ākaṅkheyyuñce, gahapatayo, ubho jānipatayo diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passituṁ ubhova assu samasaddhā samasīlā samacāgā samapaññā, te diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passanti abhisamparāyañca aññamaññaṁ passantīti)
Bốn điều ấy là đồng tín, đồng giới, đồng thí và đồng trí tuệ. Đồng tín là cùng có niềm tin nơi Như Lai, bậc Giác ngộ. Đồng giới là cùng giữ giới hạnh, không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không nói láo và không đắm say rượu men. Đồng thí là cùng biết bố thí và chia sẻ. Đồng trí tuệ là cùng có trí tuệ thấy sự sinh và diệt. Khi hai người cùng có bốn điều này, đời sống chung của họ có chung một hướng đi, và chính hướng đi chung đó giữ họ lại với nhau. Phần giải thích này là theo cách đọc của người viết.
Bốn kiểu sống chung theo Kinh Bốn Cách Sống Chung
Kinh Bốn Cách Sống Chung phân biệt vợ chồng theo giới hạnh của từng người, không theo giàu nghèo hay địa vị. Bốn kiểu được nêu như sau: “Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Đê tiện nam sống chúng với Thiên nữ. Thiên nam sống chúng với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ.” (AN 4.53:2.3–2.6; Pāli: Chavo chavāya saddhiṁ saṁvasati, chavo deviyā saddhiṁ saṁvasati, devo chavāya saddhiṁ saṁvasati, devo deviyā saddhiṁ saṁvasati)
Ở đây, chữ đê tiện chỉ người ác giới, sống với tâm bị xan tham chi phối và hay nhiếc mắng, còn chữ Thiên chỉ người có giới, thiện tánh và sống với tâm không bị xan tham chi phối. Hai kiểu lệch, một thiện một ác, cho thấy giới hạnh của mỗi người là của riêng người ấy và không tự động truyền sang người kia. Kiểu đẹp nhất là Thiên nam sống chung với Thiên nữ, tức cả hai cùng hướng thiện, cùng giữ giới và cùng nói lời thân ái với nhau. Kinh không xếp hạng vợ chồng theo tài sản, và người đọc không nên đọc thêm tiêu chuẩn đó vào lời kinh.
Bảy loại vợ trong Kinh Bảy Loại Vợ là lời dạy riêng cho nàng dâu Sujātā
Kinh Bảy Loại Vợ ghi lại lời Đức Phật dạy cho nàng dâu Sujātā trong một gia đình cụ thể. Bảy loại vợ được nêu như sau: “Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ.” (AN 7.63:4.1–4.3; Pāli: Satta kho imā, sujāte, purisassa bhariyāyo. Katamā satta? Vadhakasamā, corīsamā, ayyasamā, mātāsamā, bhaginīsamā, sakhīsamā, dāsīsamā)
Điểm cần ghi nhớ là đây là lời dạy riêng cho một nàng dâu, không phải luật chung bắt mọi người vợ phải phục tùng. Bảy hình ảnh vợ như sát nhân, như ăn trộm, như chủ nhân, như mẹ, như chị, như bạn và như nữ tỳ được đặt ra để nàng dâu soi lại cách sống của người vợ trong nhà chồng, chứ không phải để người ngoài dùng làm thước đo xét nét người vợ. Bài này dẫn kèm Kinh Bảy Loại Vợ để bạn đọc toàn văn, và dẫn kèm Kinh Thi-ca-la-việt ở mục sau để thấy bổn phận hai chiều, tránh đọc bài kinh này một chiều.
Bổn phận hai chiều theo Kinh Thi-ca-la-việt
Kinh Thi-ca-la-việt đặt bổn phận của chồng và vợ cạnh nhau, và phần của chồng cũng nặng như phần của vợ. Năm cách người chồng đối xử với vợ được nêu như sau: “Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ” (DN 31:30.1–30.2; Pāli: Pañcahi kho, gahapatiputta, ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhātabbā— sammānanāya anavamānanāya anaticariyāya issariyavossaggena alaṅkārānuppadānena)
Năm điều người vợ đáp lại được nêu ngay sau đó, như sau: “người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.” (DN 31:30.3–30.4; Pāli: Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati— susaṁvihitakammantā ca hoti, saṅgahitaparijanā ca, anaticārinī ca, sambhatañca anurakkhati, dakkhā ca hoti analasā sabbakiccesu)
Đặt hai đoạn cạnh nhau, người đọc thấy rõ đây là bổn phận hai chiều: chồng kính trọng vợ, không bất kính, trung thành, giao quyền hành và sắm đồ trang sức cho vợ; vợ làm tốt bổn phận, khéo tiếp đón bà con, trung thành, khéo giữ tài sản và khéo léo nhanh nhẹn trong mọi công việc. Kết quả của hai chiều bổn phận ấy được nêu như sau: “Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.” (DN 31:30.5–30.6; Pāli: Imehi kho, gahapatiputta, pañcahi ṭhānehi sāmikena pacchimā disā bhariyā paccupaṭṭhitā imehi pañcahi ṭhānehi sāmikaṁ anukampati. Evamassa esā pacchimā disā paṭicchannā hoti khemā appaṭibhayā)
Chữ an ổn ở đây không có nghĩa là nhà không bao giờ xảy ra chuyện buồn, mà có nghĩa là mái nhà được che chở, không còn sợ hãi vì hai bên đã làm tròn phần của mỗi bên. Phần giải thích này là theo cách đọc của người viết.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chú Khải và vợ cùng giữ một thói quen nhỏ là mỗi tối ngồi lại nói với nhau một điều tốt đã làm trong ngày và một điều còn vụng về cần sửa. Thói quen ấy không có trong kinh, nhưng nó minh họa cho điều kinh dạy là hai người cùng hướng thiện và cùng làm tròn bổn phận với nhau thì mái nhà an ổn dần lên.
Điều kinh không hứa và điều cần nhờ người giúp ngoài đời
Kinh không hứa rằng vợ chồng kiếp sau chắc chắn gặp lại nhau, và bài này không hứa điều đó. Bạn có thể đọc thêm bài viết riêng Vợ chồng theo lời Phật: kiếp sau có gặp lại nhau không? để thấy kinh nói gì và không nói gì về điều này. Bài này cũng không đưa lời khuyên tâm lý hay pháp lý ngoài kinh, và không chẩn đoán hay khuyên nhủ gì về sức khỏe.
Nếu hôn nhân có bạo hành, bạn hãy nhờ người thân hoặc người có chuyên môn giúp đỡ ngoài đời, vì đó là việc cần sự can thiệp kịp thời của con người thật trong đời thật, không phải việc chỉ ngồi suy ngẫm lời kinh là đủ.
Hỏi nhanh
Kinh Nikāya có quy định lễ cưới hay tuổi kết hôn không?
Không. Kinh Nikāya không quy định lễ cưới, tuổi kết hôn hay thủ tục, mà chỉ dạy cách vợ chồng sống chung và bổn phận hai bên dành cho nhau.
Bốn điều vợ chồng cùng có là gì?
Đồng tín, đồng giới, đồng thí và đồng trí tuệ (AN 4.55, đoạn 3.1). Khi hai người cùng có bốn điều này thì đời này và đời sau họ đều được thấy mặt nhau.
Bảy loại vợ có phải luật bắt mọi người vợ phải phục tùng không?
Không. Bảy loại vợ là lời dạy riêng cho nàng dâu Sujātā trong một gia đình cụ thể, và phải đọc kèm bổn phận hai chiều trong Kinh Thi-ca-la-việt mới thấy đủ.
Vợ chồng kiếp sau có chắc gặp lại nhau không?
Bài này không hứa điều đó. Bạn có thể đọc bài viết riêng Vợ chồng theo lời Phật: kiếp sau có gặp lại nhau không? để thấy kinh nói gì và không nói gì.
Câu chốt: Vợ chồng cùng có tín, giới, thí và tuệ, cùng làm tròn bổn phận với nhau thì mái nhà trở nên an ổn và thoát khỏi sợ hãi.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 4.55, Kinh Vợ Chồng Sống Chung (Paṭhamasamajīvī Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 4.55 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 4.55 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 4.53, Kinh Bốn Cách Sống Chung (Paṭhamasaṁvāsa Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 4.53 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 4.53 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 7.63, Kinh Bảy Loại Vợ (Bhariyā Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 7.63 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 7.63 Pāli.
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Siṅgālaka Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, DN 31 trên SuttaCentral; bản Pāli DN 31 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chú Khải trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.