Gia đình và cha mẹ

Vợ chồng theo lời Phật: kiếp sau có gặp lại nhau không?

Người vừa mất vợ hoặc mất chồng thường hỏi: kiếp sau mình có gặp lại người ấy không? Cặp đang yêu nhau cũng hay hỏi: mình có duyên kiếp sau không? Kinh Pāli có một bài trả lời đúng câu hỏi này. Câu trả lời có điều kiện, ngắn hơn và bình thản hơn nhiều điều người ta vẫn nghe. Bài này đọc kỹ bài kinh ấy, rồi đặt cạnh những bài kinh khác, và nói rõ chỗ nào là lời kinh, chỗ nào là cách đọc của người viết.

Tóm lại: Kinh có bài trả lời đúng câu hỏi này. Hai ông bà Nakulapitā và Nakulamātā mong được thấy nhau cả đời này lẫn đời sau; Đức Phật dạy rằng nếu cả hai ngang nhau về niềm tin, giới, bố thí và trí tuệ thì được thấy mặt nhau ở cả hai đời (AN 4.55:3.1). Nên đọc kỹ ba điều. Một, điều kiện đặt lên cả hai người. Hai, kinh nói thấy mặt nhau, không nói chắc chắn lại làm vợ chồng. Ba, trong các kinh bài này dẫn không thấy lời hứa cho trường hợp chỉ một người giữ điều kiện. Theo cách đọc của người viết, thứ chắc chắn hơn chuyện gặp lại là việc lành mình làm hôm nay: Pháp Cú 220 nói phước nghiệp đón người làm lành như bà con đón người về.

Cặp vợ chồng già hỏi đúng câu hỏi ấy

Kinh Vợ Chồng Sống Chung (AN 4.55) xảy ra tại nhà của ông bà Nakulapitā và Nakulamātā, hai người đã sống bên nhau từ thuở trẻ. Đức Phật đến thăm, hai ông bà ngồi xuống một bên và lần lượt thưa. Người chồng nói: “con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân” (AN 4.55:2.1; Pāli: nābhijānāmi nakulamātaraṁ gahapatāniṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena). Rồi ông thưa điều ông mong: “chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa” (AN 4.55:2.2; Pāli: Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun). Bà vợ nói cùng một câu với chồng (AN 4.55:2.3–2.5).

Ông bà không nói thêm gì ngoài điều mong ấy (AN 4.55:2.2, 2.5). Theo cách đọc của người viết, lời mong ấy rất cụ thể, lại đi kèm lời kể suốt đời không phụ nhau, nên câu trả lời của Đức Phật ở đoạn 3.1 cũng cụ thể như vậy.

Đức Phật trả lời: bốn điều ngang nhau

Đức Phật nói: “cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau” (AN 4.55:3.1; Pāli: ubhova assu samasaddhā samasīlā samacāgā samapaññā, te diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passanti abhisamparāyañca aññamaññaṁ passantīti). Bốn điều ngang nhau là niềm tin (saddhā), giới (sīla), sự rộng lòng cho đi (cāga) và trí tuệ (paññā). Bài kinh này không giải thích riêng từng điều; ý nghĩa cụ thể của chúng được các kinh khác nói đến. Bài Yêu người khác tôn giáo đã bàn kỹ vì sao ngang nhau quan trọng với đời sống chung hiện tại.

Sau câu trả lời, Đức Phật đọc hai bài kệ. Bài kệ thứ nhất tả cặp vợ chồng ấy ngay trong đời này:

Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,

Tăng Chi Bộ 4.55, bản HT. Thích Minh Châu (AN 4.55:4.1–4.4; Pāli: Ubho saddhā vadaññū ca, / saññatā dhammajīvino; / Te honti jānipatayo, / aññamaññaṁ piyaṁvadā)

Bài kệ cuối kết lại bằng điều chờ họ ở phía sau:

Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Đúng với điều sở cầu.

Tăng Chi Bộ 4.55, bản HT. Thích Minh Châu (AN 4.55:6.1–6.4; Pāli: Idha dhammaṁ caritvāna, / samasīlabbatā ubho; / Nandino devalokasmiṁ, / modanti kāmakāminoti)

Chữ Thiên giới trong kệ dịch từ devaloka, cõi trời, một trong các cõi sinh theo quan niệm Nam truyền về tái sinh.

Đọc kỹ để không đọc quá

Bài kinh ngắn nên rất dễ bị đọc quá những gì nó nói. Người viết thấy cần dừng ở ba chỗ.

Thứ nhất, kinh nói thấy mặt nhau, không nói lại làm vợ chồng. Động từ Pāli ở đây là passanti, thấy, gặp (AN 4.55:3.1). Cuối bài, hai người được tả là hân hoan ở cõi trời (AN 4.55:6.3–6.4). Theo cách đọc của người viết, gặp lại trong bài kinh này gần với việc được ở cùng một chốn lành, hơn là tái hợp thành đôi như đời này. Kinh không nói thêm về điều đó.

Thứ hai, điều kiện đặt lên cả hai người. Câu của Đức Phật có chữ ubho, cả hai (AN 4.55:3.1; kệ 4.1 cũng mở đầu bằng chữ ấy). Trong bài kinh này không thấy câu nói về trường hợp chỉ một người giữ giới, một người rộng lòng. Vì vậy người viết không thể kết luận rằng một mình giữ giới thì sẽ gặp lại người kia; điều ấy kinh không nói. Việc có thể làm chắc là phần của mình.

Thứ ba, gặp lại không phải điều có thể ép bằng ý muốn. Trong Kinh Ái Sanh (MN 87) có một ví dụ buồn: khi vợ bị gia đình ép gả cho người khác (MN 87:22.1–22.6), người chồng đã làm một điều không thể cứu vãn và nghĩ rằng “Hai chúng ta sẽ gặp nhau trong đời sau” (MN 87:22.8; Pāli: ubho pecca bhavissāmā). Kinh kể câu chuyện ấy như một ví dụ cho nỗi khổ sinh từ thương yêu (MN 87:22.9), không như một cách để gặp lại. Nếu bạn đang nghĩ đến cái chết để được gặp lại ai đó, xin đừng ở một mình: hãy nói ngay với người thân hoặc gặp bác sĩ, chuyên gia tâm lý.

Luân hồi dài: ai cũng từng là thân thuộc của nhau

Có một điều nữa làm câu hỏi gặp lại bớt đơn giản. Kinh Mẹ (SN 15.14) nói: “thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ” (SN 15.14:1.3; Pāli: na so, bhikkhave, satto sulabharūpo yo namātābhūtapubbo iminā dīghena addhunā). Các kinh SN 15.15 đến 15.19 nói tiếp như vậy về cha, anh em, chị em, con trai và con gái. Đức Phật nói ở đó rằng luân hồi không thấy điểm khởi đầu, nên việc từng là thân thuộc của nhau không phải chuyện lạ.

Những kinh này nói về cha mẹ, anh chị em, con cái, không nói riêng về vợ chồng. Theo cách đọc của người viết, ý đó cho thấy hai điều: trong một dòng luân hồi rất dài, gặp lại có thể xảy ra, nhưng vai trò sẽ đổi, và kinh không đặt chồng hay vợ thành một vai cố định đi theo người ta qua các đời. Bài Luân hồi là gì giải thích vì sao Nam truyền không nói có một linh hồn bất biến đi từ đời này sang đời khác.

Điều chắc chắn hơn chuyện gặp lại

Nếu không thể chắc về chuyện gặp lại, thì điều gì chắc? Kinh Pháp Cú có một cặp kệ trong phẩm Hỷ Ái (Dhp 209–220). Kệ đầu tả người đi xa lâu ngày trở về an toàn:

Khách lâu ngày ly hương,
An toàn từ xa về,
Bà con cùng thân hữu,
Hân hoan đón chào mừng.

Pháp Cú, bản HT. Thích Minh Châu (Dhp 219:1–4; Pāli: Cirappavāsiṁ purisaṁ, dūrato sotthimāgataṁ; Ñātimittā suhajjā ca, abhinandanti āgataṁ)

Kệ sau nói điều tương tự về người từ đời này sang đời khác:

Cũng vậy các phước nghiệp,
Đón chào người làm lành,
Đời này đến đời kia.
Như thân nhân, đón chào.

Pháp Cú, bản HT. Thích Minh Châu (Dhp 220:1–4; Pāli: Tatheva katapuññampi, asmā lokā paraṁ gataṁ; Puññāni paṭigaṇhanti, piyaṁ ñātīva āgataṁ)

Theo cách đọc của người viết, kệ này dời trọng tâm từ ai sẽ đón mình sang cái gì sẽ đón mình: phước nghiệp, tức những việc lành đã làm. Câu hỏi kiếp sau có gặp lại không vì vậy gắn với một câu hỏi khác, gần hơn: hôm nay mình đang sống ra sao.

Kinh Bảy Loại Vợ (AN 7.63) cũng nói về chuyện này, trong phần kết các bài kệ. Đức Phật nói với Sujātā, nàng dâu trong nhà ông Cấp Cô Độc, về bảy hạng người vợ. Ở cuối bài, các người vợ như mẹ, như chị, như bạn và như nữ tỳ được tả như sau:

An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Được sanh lên thiện thú.

Tăng Chi Bộ 7.63, bản HT. Thích Minh Châu (AN 7.63:13.3–13.4; Pāli: Sīle ṭhitattā cirarattasaṁvutā, / Kāyassa bhedā sugatiṁ vajanti tāti)

Chữ Pāli ở dòng cuối nghĩa là sinh vào cõi lành. Theo cách đọc của người viết, điều bài kệ nối với nhau là giới đức giữ lâu ngày và nơi sinh sau khi mất, không phải duyên số. Bài kinh được nói với người vợ, trong xã hội thời ấy; mượn nó cho cả hai phía là cách đọc của người viết.

Việc làm hôm nay

Bốn điều ngang nhau không nằm ở lời hứa mà ở những việc thường ngày. Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31) kể bổn phận hai chiều của chồng và vợ; bài Ly hôn, đổ vỡ hôn nhân đã trích và bàn kỹ phần ấy nên bài này không nhắc lại.

Ví dụ của người viết: bác Tư và bà Hai

Ví dụ của người viết: bác Tư sáu mươi tám tuổi, vợ mất đã nửa năm. Tối nào bác cũng ngồi trước ảnh bà, hỏi thầm: kiếp sau mình có gặp lại bà không? Bác hỏi một vị sư và được nghe đúng ý bài kinh: điều kiện đặt lên cả hai, kinh nói thấy mặt nhau chứ không hứa lại thành vợ chồng, và không ai chắc được hơn thế.

Lúc đầu bác thất vọng. Nhưng sau đó bác nhận ra mình đã bỏ qua phần mình làm được. Bác giữ năm giới cho chắc, mỗi tuần mang cơm chay lên chùa, thỉnh thoảng cúng dường một bữa ăn và nghĩ đến bà lúc làm việc ấy, rồi dành thời gian cho đứa cháu ngoại bà vẫn thương. Bác không biết kiếp sau thế nào, nhưng bác thấy mình sống đúng với điều bà ấy từng thấy ở bác, và nỗi chờ đợi bớt nặng. Bài Mất người thân, Phật dạy gì và bài Hồi hướng công đức thế nào nói thêm về cách nhớ ơn người đã khuất theo kinh.

Còn nếu chỉ một người tu, hoặc đã ly hôn?

Bài kinh AN 4.55 không bàn đến hai trường hợp này. Với người đang sống chung mà niềm tin khác nhau, bài Yêu người khác tôn giáo bàn cách giữ hòa khí hôm nay. Với người đã đổ vỡ, bài Ly hôn, đổ vỡ hôn nhân nói rằng kinh không phán xét. Câu hỏi kiếp sau gặp lại với họ có thể để lại, và việc trước mắt là sống cho tử tế, phần mình.

Một gợi ý nhỏ

Tối nay, bạn và người đồng hành của mình thử hỏi nhau một câu: trong bốn điều, niềm tin, giới, sự rộng lòng và trí tuệ, điều nào mình đang đi cùng nhau, điều nào mình đang đi lệch? Không cần cả bốn điều bằng nhau ngay. Chỉ cần chọn một điều để cùng nhích gần lại tuần này, như cùng đi chùa một buổi, cùng giữ một giới, cùng cho đi một khoản nhỏ, cùng đọc một bài kinh. Đây là gợi ý của người viết, không phải lời kinh.

Chuyện kiếp sau, kinh chỉ nói tới điều kiện chứ không hứa chắc. Chuyện hôm nay có thương nhau cho đúng, kinh đã chỉ rất rõ.

Hỏi nhanh

Kinh Pāli có nói vợ chồng kiếp sau gặp lại nhau không?

Có một bài trả lời đúng câu hỏi này: Tăng Chi Bộ 4.55. Ông bà Nakulapitā mong được thấy nhau cả đời này lẫn đời sau; Đức Phật dạy nếu cả hai ngang nhau về niềm tin, giới, bố thí, trí tuệ thì được thấy mặt nhau ở cả hai đời (AN 4.55:2.2, 3.1). Kinh nói thấy mặt nhau, không nói chắc chắn lại làm vợ chồng.

Điều kiện để vợ chồng được thấy nhau đời sau là gì?

Theo AN 4.55:3.1, cả hai cùng muốn thấy nhau và cả hai ngang nhau về niềm tin (saddhā), giới (sīla), sự rộng lòng cho đi (cāga) và trí tuệ (paññā). Trong bài kinh này không thấy câu nào nói về trường hợp chỉ một người giữ điều kiện.

Kiếp sau chắc chắn lại làm vợ chồng không?

Trong các kinh bài này dẫn không thấy lời hứa như vậy. Kinh Mẹ (SN 15.14) và các kinh kế tiếp nói trong luân hồi dài, ai cũng từng là thân thuộc của nhau, nên vai trò có thể đổi. Theo cách đọc của người viết, kinh không đặt vai vợ hay chồng thành vai cố định qua các đời.

Vợ hoặc chồng đã mất, mình nên làm gì theo kinh?

Theo cách đọc của người viết, việc làm được là giữ phần mình: giới, rộng lòng, trí tuệ. Pháp Cú 220 nói phước nghiệp đón người làm lành như bà con đón người trở về. Nỗi nhớ có thể đi cùng việc lành và việc chăm lo cho người còn sống; nếu đau buồn kéo dài hoặc có ý nghĩ làm hại bản thân, hãy gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.55, Kinh Vợ Chồng Sống Chung (Paṭhamasamajīvī Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 4.55 trên SuttaCentral; Pāli: AN 4.55, bản Mahāsaṅgīti.
  2. Tăng Chi Bộ 7.63, Kinh Bảy Loại Vợ, bản HT. Thích Minh Châu, AN 7.63 trên SuttaCentral; Pāli: AN 7.63, bản Mahāsaṅgīti.
  3. Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt, bản HT. Thích Minh Châu, DN 31 trên SuttaCentral; Pāli: DN 31, bản Mahāsaṅgīti.
  4. Tương Ưng Bộ 15.14, Kinh Mẹ, bản HT. Thích Minh Châu, SN 15.14 trên SuttaCentral; Pāli: SN 15.14, bản Mahāsaṅgīti.
  5. Kinh Pháp Cú, Phẩm Hỷ Ái, kệ 219–220, bản HT. Thích Minh Châu, Dhp 209–220 trên SuttaCentral; Pāli: Dhp 209–220, bản Mahāsaṅgīti.
  6. Trung Bộ 87, Kinh Ái Sanh (Piyajātika Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, MN 87 trên SuttaCentral; Pāli: MN 87, bản Mahāsaṅgīti.
  7. Các câu trong ngoặc kép và khung trích là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu; câu Pāli kèm theo chép từ bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral, số đoạn theo cách đánh số của SuttaCentral. Phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi cách đọc của người viết là suy luận, chỗ ghi ví dụ của người viết là tình huống hình dung, không phải chuyện trong kinh. Nghĩa các chữ Pāli là nghĩa thông thường trong tiếng Pāli.

Đọc nguyên văn bài kinh

Đọc thêm