Ngạ quỷ là ai, có thật không? Kinh Tương Ưng Lakkhaṇa nói gì về nghiệp
Theo kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, tức ngôn ngữ cổ mà kinh gốc được ghi lại, có những chúng sinh ngoài cõi người phải chịu khổ do nghiệp cũ, và Đức Phật nói về những trường hợp này một cách dè dặt. Chữ ngạ quỷ nằm ở Tiểu Bộ, nhưng hai đoạn trích của bài hôm nay chưa trích phần đó.
Ngạ quỷ là ai theo cách gọi trong kinh và trong dân gian
Trong dân gian, ngạ quỷ thường được gọi là quỷ đói, tức những vong hồn lang thang vì đói khát và không siêu thoát. Cách gọi này mang nhiều màu sắc phong tục và truyền thuyết, và người đọc cần phân biệt nó với những gì kinh gốc thật sự nói. Trong kinh gốc, chữ peta nằm ở Tiểu Bộ (Petavatthu) và Khp 7, Khuddakapāṭha (Tiểu Tụng), tức tập kinh ngắn, nhưng hai đoạn trích được dùng trong bài hôm nay lại thuộc Tương Ưng Lakkhaṇa (SN 19). Hai đoạn trích này nói về chúng sinh chịu khổ do nghiệp, chứ không dùng chữ ngạ quỷ trong đoạn trích; kinh chỉ tả cảnh ấy và không tả thêm gì khác.
Để bạn không nhầm lẫn, bài hôm nay trả lời câu hỏi ngạ quỷ có thật không bằng những gì kinh Tương Ưng Lakkhaṇa có, và nói rõ phần nào kinh không nói. Bạn có thể đọc thêm bài về cõi và chư thiên tại 31 cõi và chư thiên: kinh nói gì, Vi Diệu Pháp xếp thế nào, và bài về địa ngục tại Địa ngục có thật không? Đức Phật nói gì về địa ngục trong kinh Nikāya.
Kinh Bộ Xương trong Tương Ưng Lakkhaṇa ghi lại điều ngài Mục-kiền-liên thấy
Kinh Bộ Xương thuộc Tương Ưng Bộ, và bài kinh này mở đầu bằng lời kể của ngài Mục-kiền-liên với tôn giả Lakkhaṇa, vị đồng tu của ngài. Khi từ núi xuống, ngài thấy một chúng sinh đang chịu khổ trên hư không. Kinh ghi rõ “—Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.” (SN 19.1:3.1–3.3; Pāli: Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ vehāsaṁ gacchantiṁ. Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā phāsuḷantarikāhi vitudenti vitacchenti virājenti. Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti) Người viết chỉ nhắc lại khung chung của đoạn kinh mà không tả thêm chi tiết ngoài cảnh ấy. Điều kinh nhấn mạnh không phải là cảnh tượng, mà là lời giải thích sau đó về nguyên nhân của cảnh khổ ấy.
Ngài Mục-kiền-liên là một trong những đệ tử lớn của Đức Phật, và bạn có thể tìm hiểu thêm về ngài tại Ngài Mục-kiền-liên là ai, và chuyện cứu mẹ đến từ kinh nào. Trong bài kinh này, ngài không tự kết luận về nguyên nhân, mà đem điều ngài thấy bạch lên Đức Phật.
Kinh Bộ Xương cho thấy Đức Phật nói về việc này một cách dè dặt
Một điểm đáng chú ý của Kinh Bộ Xương là thái độ dè dặt của Đức Phật. Ngài cho biết Ngài đã thấy chúng sinh ấy từ trước, nhưng Ngài đã không nói ra vì lo người nghe không tin và vì vậy mà chịu bất hạnh lâu dài. Kinh ghi rõ “Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.” (SN 19.1:4.4–4.6; Pāli: Pubbeva me so, bhikkhave, satto diṭṭho ahosi, api cāhaṁ na byākāsiṁ. Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ. Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya) Theo cách đọc của người viết, thái độ này trái ngược hẳn với cách dùng chuyện cõi âm để dọa người. Đức Phật không kể những chuyện này để gây sợ hãi, mà chỉ xác nhận khi có người đã thấy, và lời xác nhận ấy đi kèm với lời giải thích bằng nghiệp.
Nếu bạn đang rất lo sợ vì những chuyện nghe kể về cõi âm, người viết gợi ý bạn tìm người thân tin cậy hoặc người có chuyên môn để chia sẻ, thay vì giữ nỗi sợ trong lòng và tìm thêm những câu chuyện gây sợ hãi. Kinh không dạy dùng nỗi sợ để điều khiển người khác, và bài này cũng không làm như vậy.
Kinh Bộ Xương giải thích khổ báo bằng nghiệp của người đồ tể ở Rājagaha, tức thành Vương Xá
Sau lời xác nhận dè dặt, Đức Phật giải thích nguyên nhân của trường hợp ấy bằng nghiệp cụ thể. Tiếng Pāli gọi nghiệp là kamma, tức hành động có chủ ý và quả của nó. Kinh ghi rõ “Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Rājagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.” (SN 19.1:4.7–4.8; Pāli: Eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe goghātako ahosi. So tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatīti) Đoạn kinh này có hai ý quan trọng. Theo cách đọc của người viết, thứ nhất, quả báo không đến một cách ngẫu nhiên hay do ai đó trừng phạt, mà đến từ chính nghiệp của người ấy khi nghiệp đã thuần thục. Thứ hai, sau một thời gian dài chịu quả trong địa ngục, tức niraya trong tiếng Pāli, phần quả còn lại vẫn tiếp tục trong hình thức chúng sinh chịu khổ mà ngài Mục-kiền-liên đã thấy.
Bạn có thể đọc thêm về nghiệp tại Nghiệp là gì, và vì sao nghiệp không phải số mệnh. Theo cách đọc của người viết, lời giải thích này chuyển trọng tâm từ việc tò mò về cõi khác sang việc soi lại hành động của chính bản thân trong hiện tại, vì nghiệp là thứ mỗi người đang tạo ra từng ngày.
Kinh Ác Sa-di-ni trong Tương Ưng Lakkhaṇa lặp lại cùng một mẫu
Kinh Ác Sa-di-ni cũng thuộc Tương Ưng Lakkhaṇa, và bài kinh này lặp lại cùng một mẫu như Kinh Bộ Xương. Đức Phật cho biết Ngài cũng đã thấy vị Sa-di-ni ấy từ trước mà không nói ra, vì cùng một lý do dè dặt như trên. Kinh ghi rõ “Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.” (SN 19.21:2.4–2.7; Pāli: Pubbeva me sā, bhikkhave, sāmaṇerī diṭṭhā ahosi. Api cāhaṁ na byākāsiṁ. Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ. Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya) Sau đó kinh giải thích nguyên nhân bằng nghiệp trong thời Đức Phật Ca-diếp thuyết pháp. Kinh ghi rõ “Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Đẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.” (SN 19.21:2.8–2.9; Pāli: Esā, bhikkhave, sāmaṇerī kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpasāmaṇerī ahosi. Sā tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatīti) Theo cách đọc của người viết, việc cùng một mẫu lặp lại trong hai bài kinh cho thấy đây không phải một câu chuyện lẻ tẻ. Theo cách đọc ấy, nghiệp cũ có quả, quả có thể kéo dài, và phần quả còn lại có thể tiếp tục sau khi quả chính đã qua.
Theo cách đọc của người viết, việc kinh lặp lại mẫu này giúp người đọc không dừng lại ở một trường hợp riêng, mà thấy được quy luật chung. Quy luật ấy không nhằm làm người đọc sợ hãi, mà nhằm nhắc người đọc sống cẩn trọng với từng hành động, lời nói và ý nghĩ của bản thân.
Một điểm nữa cần lưu ý là trong SN 19.1, cảnh tượng (3.1–3.3) nằm trước lời giải thích bằng nghiệp. Theo cách đọc của người viết, khi đọc các bài kinh thuộc tương ưng này, người đọc vì vậy nên hỏi trước hết rằng nghiệp nào đã được nêu, và nghiệp ấy nhắc việc gì trong đời sống hiện tại, thay vì hỏi thêm về những chi tiết mà kinh đã không kể.
Ví dụ đời thường về cách nhìn nghiệp trong một việc làm hằng ngày
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh. Một người làm nghề buôn bán thường cân thiếu cho khách để lời thêm một chút mỗi ngày. Lâu dần khách thưa đi, uy tín mất dần, và chính người ấy phải sống trong lo lắng mỗi khi có khách quen quay lại. Không ai trừng phạt người ấy từ bên ngoài, mà quả đến từ chính thói quen gian dối đã lặp lại nhiều lần. Ví dụ này không nói về cõi ngạ quỷ, mà chỉ minh họa cách kinh dạy nhìn nghiệp, tức hành động lặp lại sẽ tạo ra quả tương ứng trong đời sống.
Điều kinh không nói và điều người đọc nên làm trong hiện tại
Kinh Tương Ưng Lakkhaṇa chỉ tả cảnh ấy và không tả thêm gì khác, không dạy cúng giải oan và không hứa rằng một lễ cúng nào đó sẽ cứu một chúng sinh khỏi quả nghiệp. Điều này cần nói rõ vì nhiều phong tục dân gian đã thêm vào những chi tiết mà kinh không có. Kinh Nikāya không nói điều gì thì bài này cũng dừng ở đó, và không bù bằng phong tục. Bạn có thể đối chiếu thêm với bài về cúng thất tại Cúng 49 ngày, cúng thất: Nam truyền làm gì, kinh nói gì và bài về thỉnh vong tại Thỉnh vong, căn đồng: kinh nói gì, và điều gì thật sự giúp người đã khuất.
Theo cách đọc của người viết, người đọc có thể hướng tới việc sống thiện trong hiện tại: giữ giới, làm việc thiện, nói lời chân thật và tu tập tâm một cách đều đặn. Đó là hướng đi bình tĩnh và rõ ràng, không dựa vào sợ hãi.
Người đọc cũng nên giữ một thái độ bình tĩnh khi nghe ai đó kể chuyện về cõi âm. Một câu chuyện nghe hấp dẫn chưa chắc đã có nguồn kinh, và một câu chuyện có nguồn kinh cũng cần được đọc trong toàn bộ bài kinh để hiểu đúng ý. Khi chưa rõ nguồn, cách làm an toàn nhất là tạm gác câu chuyện ấy sang một bên, quay lại với việc giữ giới và làm việc thiện trong ngày, rồi tìm hiểu thêm khi có đủ thời gian đối chiếu với nguyên văn. Thái độ này vừa bảo vệ tâm khỏi sợ hãi không cần thiết, vừa giữ đúng tinh thần dè dặt mà chính Đức Phật đã thể hiện trong hai bài kinh trên.
Hỏi nhanh
Ngạ quỷ là ai?
Chữ peta nằm ở Tiểu Bộ (Petavatthu) và Khp 7, Khuddakapāṭha (Tiểu Tụng), nhưng hai đoạn trích hôm nay nói về chúng sinh chịu khổ do nghiệp, chứ không dùng chữ ngạ quỷ trong đoạn trích.
Kinh có thật sự nói đến chúng sinh chịu khổ ngoài cõi người không?
Có. Kinh Bộ Xương ghi lại việc ngài Mục-kiền-liên thấy một chúng sinh chịu khổ (SN 19.1, đoạn 3.1–3.3), và Đức Phật giải thích bằng nghiệp cũ (SN 19.1, đoạn 4.7–4.8).
Vì sao Đức Phật không nói ra ngay những điều Ngài thấy?
Vì Ngài lo người nghe không tin và vì vậy mà chịu bất hạnh lâu dài (SN 19.1, đoạn 4.4–4.6). Kinh vì vậy nói về việc này một cách dè dặt, không dùng để dọa người.
Có lễ cúng nào giải oan cho ngạ quỷ không theo kinh?
Kinh Tương Ưng Lakkhaṇa không dạy cúng giải oan và không hứa cứu bằng lễ cúng. Theo cách đọc của người viết, điều hướng tới là sống thiện và tạo nghiệp lành trong hiện tại.
Câu chốt: Kinh nói có chúng sinh chịu khổ do nghiệp cũ; theo cách đọc của người viết, người đọc nên sống thiện ngay trong hiện tại thay vì sợ hãi hay tìm lễ giải oan.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 19.1, Kinh Bộ Xương (Aṭṭhi Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 19.1 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 19.1 Pāli.
- Tương Ưng Bộ 19.21, Kinh Ác Sa-di-ni (Pāpasāmaṇerī Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 19.21 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 19.21 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn.