Quy y có phải cạo đầu, ăn chay, bỏ thờ ông bà không? Kinh nói không
Kinh Nikāya, tức năm bộ kinh gốc bằng tiếng Pāli, không đòi người quy y phải cạo đầu, ăn chay hay bỏ việc nhớ ơn tổ tiên. Quy y Phật, Pháp, Tăng là đủ để gọi là cư sĩ, còn giữ giới là bước kế tiếp mà kinh nêu riêng.
Quy y Tam Bảo: Kinh Mahānāma (SN 55.37) nói điều kiện thành cư sĩ
Nhiều người mới tìm hiểu e ngại rằng quy y đồng nghĩa với cạo đầu, ăn chay trường và bỏ bàn thờ tổ tiên, nên chần chừ không dám quy y. Kinh trả lời thẳng bằng một điều kiện duy nhất “Ai quy y Phật, này Mahānāma, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ.” (SN 55.37:2.2–2.3; Pāli: Yato kho, mahānāma, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti— ettāvatā kho, mahānāma, upāsako hotīti). Chữ upāsako, cư sĩ, chỉ người tại gia nương tựa Tam Bảo. Theo cách đọc của người viết, điều kiện duy nhất này tự nó đã trả lời câu hỏi cạo đầu: kinh không nhắc cạo đầu trong điều kiện thành cư sĩ, nên cạo đầu không phải yêu cầu của việc quy y.
Giữ giới là bước kế tiếp: Kinh Mahānāma (SN 55.37) nói gì về cư sĩ đầy đủ giới
Sau khi nói điều kiện thành cư sĩ, kinh nêu tiếp điều kiện thành cư sĩ đầy đủ giới “Này Mahānāma, người cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Cho đến như vậy, này Mahānāma, là người cư sĩ đầy đủ giới.” (SN 55.37:3.2–3.3; Pāli: Yato kho, mahānāma, upāsako pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā paṭivirato hoti— ettāvatā kho, mahānāma, upāsako sīlasampanno hotīti). Theo cách đọc của người viết, hai điều kiện này được kinh tách riêng: quy y là bước nương tựa, giữ giới là bước sống theo năm điều từ bỏ. Kinh cũng không nhắc ăn chay trong năm điều này, và việc ăn chay đã có bài viết riêng là Phật tử có bắt buộc ăn chay không, nên bài này không lặp lại.
Quy y không bỏ tổ tiên: Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản (AN 5.41) dạy hiến cúng
Kinh dạy người tại gia dùng của cải chân chính để làm năm hiến cúng “có thể làm năm hiến cúng. Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên.” (AN 5.41:4.1–4.2; Pāli: Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi pañcabaliṁ kattā hoti. Ñātibaliṁ, atithibaliṁ, pubbapetabaliṁ, rājabaliṁ, devatābaliṁ—). Theo cách đọc của người viết, việc kinh đặt hiến cúng cho bà con và hương linh đã chết ngay trong đời sống người tại gia cho thấy quy y không cắt đứt lòng nhớ ơn tổ tiên. Kinh chỉ nói việc cúng dường bà con và hương linh, không nói chuyện bàn thờ, vì bàn thờ là phong tục, và bài viết về bàn thờ Phật tại nhà đã nói rõ điều nào là kinh và điều nào là phong tục.
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan và ngày quy y
Ví dụ của người viết, không phải chuyện trong kinh: chị Lan lo rằng quy y xong phải cạo đầu và ăn chay trường nên chưa dám quy y, dù chị vẫn thắp hương nhớ ông bà mỗi rằm. Khi biết kinh chỉ nói quy y Tam Bảo là đủ để thành cư sĩ và người tại gia vẫn cúng dường bà con, hương linh, chị Lan yên tâm quy y mà vẫn giữ việc nhớ ơn tổ tiên như trước.
Hỏi nhanh
Quy y có phải cạo đầu không?
Không, kinh nói quy y Phật, Pháp, Tăng là đủ để thành cư sĩ, và không nhắc cạo đầu trong điều kiện ấy (SN 55.37, đoạn 2.2–2.3).
Quy y có phải ăn chay không?
Kinh không nhắc ăn chay trong điều kiện thành cư sĩ hay trong năm giới của cư sĩ đầy đủ giới (SN 55.37, đoạn 3.2–3.3). Bài viết về ăn chay đã nói riêng điều này.
Quy y rồi có phải bỏ thờ ông bà không?
Không, kinh dạy người tại gia vẫn làm hiến cúng cho bà con và hương linh đã chết (AN 5.41, đoạn 4.1–4.2), nên quy y không có nghĩa bỏ tổ tiên.
Quy y xong cần làm gì tiếp theo?
Kinh nêu tiếp việc giữ năm giới là điều kiện thành cư sĩ đầy đủ giới (SN 55.37, đoạn 3.2–3.3).
Câu chốt: Quy y Tam Bảo là đủ để thành cư sĩ, không đòi cạo đầu, ăn chay hay bỏ việc nhớ ơn tổ tiên.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tương Ưng Bộ 55.37, Kinh Mahānāma (Mahānāma Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, SN 55.37 trên SuttaCentral; bản Pāli SN 55.37 Pāli.
- Tăng Chi Bộ 5.41, Kinh Các Lý Do Gầy Dựng Tài Sản (Ādiya Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.41 trên SuttaCentral; bản Pāli AN 5.41 Pāli.
- Các câu trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu, kèm câu Pāli gốc (bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral) và số đoạn (segment) của bản Pāli ấy. Phần ngoài ngoặc kép là diễn giải của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Số đoạn viết trong ngoặc đơn không kèm câu Pāli (ví dụ “đoạn 3.2–3.5”) là tóm ý, không phải trích nguyên văn. Nhân vật chị Lan trong ví dụ là ví dụ của người viết, không có trong kinh.