Bàn thờ Phật tại nhà và lạy Phật theo Nam truyền: điều nào có trong kinh, điều nào là phong tục
Đặt bàn thờ Phật hướng nào, bày gì, lạy mấy lạy, lạy có được phước không? Bài này mở kinh Nikāya ra xem kinh nói gì về hoa, hương, đảnh lễ và nơi thờ Đức Phật, rồi tách rõ phần truyền thống và phong tục để bạn tự sắp xếp bàn thờ trong nhà mình.
Tách hai lớp trước: lời kinh và phong tục
Hỏi về bàn thờ Phật tại nhà và chuyện lạy Phật, người ta thường nhận về một mớ lời dặn trộn lẫn: đặt hướng nào, mấy tầng, cúng gì, lạy mấy lạy, lạy lúc nào. Trong đó chỉ một phần nhỏ có gốc trong kinh Nikāya, tức các bộ kinh Pāli mà Phật giáo Nam truyền giữ. Phần còn lại là truyền thống của chùa và phong tục của từng gia đình, từng vùng. Cả hai đều có chỗ đứng, nhưng không nên nói phong tục bằng giọng lời kinh.
Bài này gắn nhãn cho từng ý. “Kinh” là điều có câu kinh kèm Pāli và số đoạn. “Truyền thống” là nếp thường thấy ở các chùa Nam tông. “Phong tục” là nếp gia đình, không có trong kinh. Nếu bạn mới đi chùa lần đầu và muốn biết cách lạy, cách ngồi, cách dâng cơm, bài Lần đầu đi chùa Nam tông đã nói kỹ; bài này đi vào chuyện ở nhà.
Kinh có nói gì về nơi thờ Phật?
Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh nói về việc lập bàn thờ hay đặt tượng Phật trong nhà. Thứ gần nhất là một đoạn trong Trường Bộ 16, Kinh Đại Bát Niết-bàn, lúc Tôn giả Ānanda hỏi Đức Phật nên đối xử thế nào với thân Ngài sau khi Ngài diệt độ. Đức Phật dạy dựng tháp (thūpa, nơi thờ xá-lợi) ở ngã tư đường, và nói về những người đến đó:
Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
Trường Bộ 16 (Kinh Đại Bát Niết-bàn) (DN 16:5.11.9–5.11.10; Pāli: Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo. Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.)
Đọc kỹ câu này, bạn thấy ba việc người đến thăm tháp làm: đem vòng hoa, hương, hương bột; đảnh lễ; và khởi tâm hoan hỷ. Theo cách đọc của người viết, đây là hình mẫu gốc nhất của một bàn thờ Phật: một chỗ để nhớ đến Đức Phật, với hoa, hương, một cái cúi đầu, và quan trọng nhất là tâm hoan hỷ. Chữ cuối ấy mới là mục đích; hoa và hương là phương tiện.
Cũng trong đoạn kinh này, Đức Phật nói ai xứng đáng được xây tháp:
Này Ānanda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xứng đáng xây tháp. Độc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
Trường Bộ 16 (Kinh Đại Bát Niết-bàn) (DN 16:5.12.1–5.12.3; Pāli: Cattārome, ānanda, thūpārahā. Katame cattāro? Tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho, paccekasambuddho thūpāraho, tathāgatassa sāvako thūpāraho, rājā cakkavattī thūpārahoti.)
Trong các kinh bài này dẫn, người viết cũng không thấy kinh nói về việc làm tượng Phật. Vì vậy tượng hay ảnh Đức Phật trên bàn thờ là truyền thống, không phải điều kinh dạy. Điều đó không làm tượng kém giá trị: một bức tượng đặt đúng chỗ giúp bạn nhớ rằng có một con người đã tìm ra con đường thoát khổ. Chỉ cần nhớ nó là chỗ nhắc nhớ, không phải một vật có sức tự mình ban điều gì. Bài Bùa hộ mệnh, đeo tượng Phật bàn kỹ ý này.
Một bàn thờ Phật giản dị theo nếp Nam tông
Dưới đây là truyền thống, theo nếp thường gặp ở nhiều gia đình và chùa Nam tông, không phải lời kinh:
- Một tượng hoặc ảnh Đức Phật Thích Ca (Đức Phật Gotama, vị Phật lịch sử trong kinh Nikāya).
- Hoa, thường là hoa tươi, thay khi héo.
- Đèn hoặc nến và nhang, nếu nhà tiện sử dụng (gợi ý của người viết: nhà chật hoặc có trẻ nhỏ có thể dùng đèn điện, bỏ nhang).
- Một chén nước sạch, thay mỗi ngày.
Hoa và hương khớp với điều kinh Trường Bộ 16 nêu ở trên. Đèn và nước là nếp truyền thống. Mọi thứ khác (nhiều tầng, nhiều loại lễ vật, đồ trang trí) là tùy gia đình; thêm cũng được, bớt cũng được. Điều người viết thấy đáng giữ là sự giản dị và sạch sẽ, vì bàn thờ giản dị thì dễ ngồi trước đó mỗi ngày.
Đặt ở đâu, hướng nào? Đây là phong tục. Người viết không thấy kinh bài này dẫn quy định hướng bàn thờ, độ cao hay tầng; phong thủy không phải lời Đức Phật (xem Xem ngày, coi đất, phong thủy). Gợi ý thực tế của người viết, không phải lời kinh: chọn nơi sạch, yên tĩnh, ít người đi lại, đủ chỗ để ngồi vài phút, và đặt cao hơn tầm ngồi của bạn để nhắc lòng kính. Nhà chật thì một kệ nhỏ trên tường là đủ.
Thờ Phật cùng bàn thờ gia tiên được không? Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh quy định chuyện này. Nhiều gia đình có hai bàn riêng; nhiều gia đình chỉ có một bàn và đặt ảnh Phật cao hơn hoặc ngăn riêng. Cả hai đều là cách sắp xếp của gia đình. Việc nhớ ơn tổ tiên có chỗ đứng trong kinh, và bài Thờ cúng tổ tiên theo lời Phật dạy nói về điều đó.
Có nên để tượng thần, vật cầu tài trên cùng bàn? Đây là gợi ý của người viết. Đức Phật không phải thần linh (xem Đức Phật có phải là thần linh không), nên nhiều người chọn để tượng Phật riêng, không lẫn với vật cầu tài lộc, để lòng kính hướng về một đối tượng và khỏi nhầm nghĩa của việc lễ.
Lạy Phật: kinh nói gì?
Trong kinh, người đến gặp Đức Phật thường đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Tăng Chi Bộ 6.10 viết đúng như vậy khi ông Mahānāma đến thăm Ngài:
“Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.” (AN 6.10:1.2; Pāli: Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno, kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:). Chữ “đảnh lễ” ở đây là bản Minh Châu dịch chữ abhivādetvā (gốc abhivādeti), theo cách hiểu thông thường là cúi chào bày tỏ lòng kính. Cách lạy cụ thể (quỳ, chắp tay, trán chạm đất) là truyền thống, không phải điều kinh mô tả.
Lạy mấy lạy? Truyền thống Nam tông thường lạy ba lạy, nhớ Phật, Pháp, Tăng. Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh quy định số lạy. Con số ba là nếp đẹp và dễ nhớ, không phải mức tối thiểu hay tối đa. Nếu bạn lạy một lần với tâm trọn vẹn, tốt hơn lạy mười lần mà đầu óc ở chỗ khác.
Lạy Phật có phước không? Kinh Pháp Cú nói về công đức của việc kính lễ bậc đáng kính. Chữ bản Minh Châu dịch là “cúng dường” ở đây là pūjā, theo cách hiểu thông thường là sự tôn kính, lễ kính, dâng cúng đối với bậc đáng kính. Hai kệ này nằm trong phẩm nói về Đức Phật:
Cúng dường bậc đáng cúng,
Pháp Cú 195–196 (Dhp 195:1–4; 196:1–4; Pāli: Pūjārahe pūjayato, buddhe yadi va sāvake; Papañcasamatikkante, tiṇṇasokapariddave. Te tādise pūjayato, nibbute akutobhaye; Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ, imettamapi kenaci.)
Chư Phật hoặc đệ tử,
Các bậc vượt hý luận,
Đoạn diệt mọi sầu bi.
Cúng dường bậc như vậy,
Tịch tịnh, không sợ hãi,
Các công đức như vậy,
Không ai ước lường được.
Hãy đọc kỹ hai kệ. Phước ở đây gắn với người được kính: bậc đã tịch tịnh, không sợ hãi, vượt hý luận (papañca, những dòng suy nghĩ tản mạn làm tâm xa chân lý, theo cách hiểu thông thường). Kệ nói công đức ấy “không ai ước lường được”, tức là trong hai kệ này không có con số nào. Vì vậy các lời như “lạy 108 lạy được ngần này phước” là phong tục, không phải lời kinh.
Một kệ khác nói về thói quen kính lễ bậc trưởng thượng nói chung:
Thường tôn trọng, kính lễ
Pháp Cú 109 (Dhp 109:1–4; Pāli: Abhivādanasīlissa, niccaṁ vuḍḍhāpacāyino; Cattāro dhammā vaḍḍhanti, āyu vaṇṇo sukhaṁ balaṁ.)
Bậc kỳ lão trưởng thượng,
Bốn pháp được tăng trưởng:
Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.
Kệ này nói về người lớn tuổi, bậc trưởng thượng (vuḍḍha), không riêng về Đức Phật. Theo cách đọc của người viết, nó cho thấy kinh xem thói quen cúi đầu kính trọng là một nếp sống nuôi dưỡng người làm việc ấy, không chỉ là hình thức. Lạy Phật là một trường hợp của nếp ấy.
Lạy để xin điều gì được không? Trong các đoạn kinh bài này dẫn (AN 6.10, DN 16), người đến lễ Đức Phật là để kính và để hỏi; người viết không thấy kinh gắn việc lạy với việc xin một điều gì. Bài Cầu nguyện có linh không bàn riêng về lời cầu xin.
Điều Đức Phật nói là cúng dường cao nhất
Có một đoạn rất đáng để mọi bàn thờ trong nhà nhớ. Lúc Ngài sắp diệt độ, cây sāla nở hoa trái mùa, hoa rơi xuống thân Ngài như một sự cúng dường. Đức Phật nói với Ānanda:
Nhưng, này Ānanda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.
Trường Bộ 16 (Kinh Đại Bát Niết-bàn) (DN 16:5.3.8–5.3.9; Pāli: Na kho, ānanda, ettāvatā tathāgato sakkato vā hoti garukato vā mānito vā pūjito vā apacito vā. Yo kho, ānanda, bhikkhu vā bhikkhunī vā upāsako vā upāsikā vā dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tathāgataṁ sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti apaciyati, paramāya pūjāya.)
Đoạn kinh này đã được trích trong bài Bốn thánh tích; ở đây nó đặt lại thứ bậc cho cả bàn thờ. Hoa, hương, tượng, lạy đều đẹp và đều có chỗ, nhưng điều Đức Phật gọi là sự cúng dường tối thượng là sống đúng Pháp. Theo cách đọc của người viết, bàn thờ là chỗ nhắc việc ấy, còn việc ấy xảy ra ở nơi làm việc, nơi nhà bếp, nơi bàn họp, nơi bạn quyết định nói thật hay nói dối.
Bàn thờ trong nhà không thay được chỗ của cha mẹ
Thử hình dung một nhà lập bàn thờ Phật rất trang nghiêm, nhưng người mẹ già trong nhà ăn bữa cơm một mình. Kinh nhìn chuyện này khác. Tăng Chi Bộ 3.31, một bài kinh ngắn, nói về chính chỗ “ở trong nhà”:
“Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên.” (AN 3.31:1.1; Pāli: “Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.) Và kinh giải thích chữ Phạm Thiên ấy: “Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ.” (AN 3.31:1.4; Pāli: ‘Brahmā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.)
Chữ Pāli mà bản Minh Châu dịch là “kính lễ” ở câu kinh thứ nhất là pūjitā, cùng gốc với pūjā (cúng dường, kính lễ) trong kệ Pháp Cú ở trên. Theo cách đọc của người viết, kinh đặt cha mẹ còn sống vào hàng đối tượng kính lễ đáng quý, ngay trong nhà. Một gia đình lạy Phật mà quên mẹ cha thì mới làm được một nửa điều kinh nêu. Bài Báo hiếu cha mẹ theo lời Phật nói những việc cụ thể.
Một thời ngắn trước bàn thờ mỗi ngày
Gợi ý thực hành dưới đây là của người viết, dựa trên các mục kinh đã nêu, không phải một nghi thức bắt buộc. Mỗi ngày bạn có thể dành năm đến mười phút:
- Thắp đèn hoặc nhang nếu tiện, chắp tay đứng hoặc quỳ trước bàn thờ.
- Đọc câu kính lễ Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa và lời Tam quy. Bài Namo tassa có nghĩa từng chữ, bài Tam quy và năm giới bằng tiếng Pāli có bản đọc theo.
- Lạy ba lạy nếu bạn quen, hoặc cúi đầu chắp tay.
- Ngồi yên một lúc, nhớ một ân đức của Đức Phật. Kinh Ma-ha-nam (AN 6.10) trên Hoan Hỉ nói về việc nhớ ân đức Phật.
- Kết thúc bằng một lời chúc tâm từ cho người thân, rồi đi làm việc của mình.
Một ví dụ đời thường
Ví dụ minh họa, nhân vật hư cấu, không phải chuyện có thật và không phải lời kinh. Cô Nhàn ở trọ, phòng chỉ mười hai mét vuông. Cô lo mình không có chỗ “thờ cho đúng”. Cô hỏi một người quen, và nhận được ba lời dặn khác nhau về hướng đặt. Sau khi đọc Trường Bộ 16, cô đóng một kệ gỗ nhỏ trên tường, đặt một ảnh Đức Phật, một bình hoa nhỏ và một chén nước. Mỗi tối cô đứng ba phút, chắp tay, nhắc mình hôm nay giữ giới được mấy điều. Cô không còn lo hướng đặt, vì cô hiểu điều kinh coi trọng là tâm hoan hỷ và việc sống đúng Pháp, không phải la bàn.
Một gợi ý nhỏ
Tuần này, đứng trước bàn thờ của bạn (hoặc tưởng tượng một bàn thờ nhỏ), thử trả lời ba câu: bàn thờ này giúp mình nhớ gì? Mình đã sống đúng điều ấy hôm nay chưa? Và hôm nay mình đã làm gì cho cha mẹ, hoặc người lớn trong nhà? Ba câu ấy nối bàn thờ với đời sống, đúng như câu kinh về sự cúng dường tối thượng.
Hỏi nhanh
Bàn thờ Phật tại nhà theo Nam truyền cần những gì?
Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh quy định bàn thờ. Trường Bộ 16 nói về tháp của Đức Phật, nơi người ta đem hoa, hương và đảnh lễ: “Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp” (DN 16:5.11.10; Pāli: Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.). Theo nếp truyền thống, bàn thờ giản dị gồm tượng hoặc ảnh Đức Phật, hoa, đèn, nhang và nước.
Bàn thờ Phật đặt hướng nào?
Đây là phong tục. Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh nêu hướng đặt bàn thờ. Nên chọn nơi sạch, yên tĩnh và đủ chỗ để ngồi.
Lạy Phật mấy lạy?
Truyền thống Nam tông thường lạy ba lạy, nhớ Phật, Pháp, Tăng. Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh quy định số lạy.
Lạy Phật có được phước không?
Theo Pháp Cú 196, công đức của việc cúng dường, kính lễ bậc đáng kính là rất lớn: “Các công đức như vậy, / Không ai ước lường được.” (Dhp 196:3–4; Pāli: Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ, imettamapi kenaci.) Trong kệ ấy không có con số, và Trường Bộ 16 dạy sự cúng dường tối thượng là sống đúng Pháp.
Thờ Phật chung với bàn thờ gia tiên được không?
Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh quy định chuyện này; đó là cách sắp xếp của từng gia đình. Nhiều nhà để hai bàn riêng, nhiều nhà để một bàn với ảnh Phật đặt cao hơn.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Trường Bộ 16, bản HT. Thích Minh Châu, DN 16 trên SuttaCentral; Pāli: DN 16.
- Pháp Cú 109 và 195–196, bản HT. Thích Minh Châu (phantuananh, 2021, trên SuttaCentral), Pāli: Dhp 100–115 và Dhp 179–196.
- Tăng Chi Bộ 6.10, bản HT. Thích Minh Châu, AN 6.10 trên SuttaCentral. Tăng Chi Bộ 3.31, AN 3.31 trên SuttaCentral.
- Các câu trong khung trích và trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu; câu Pāli chép theo SuttaCentral, bản Mahāsaṅgīti. Phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” hay “gợi ý của người viết” là suy luận. Phần bày biện bàn thờ (tượng, hoa, đèn, nhang, nước), số lạy và cách lạy là nếp truyền thống thường gặp, không phải lời kinh. Phần hướng đặt, độ cao, thờ chung với gia tiên là phong tục gia đình. Câu “trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy…” chỉ nói về những kinh được trích trong bài, không khẳng định cho cả Tam tạng.