Đời sống

Sợ cái chết: Phật dạy gì để lòng an

Gần như ai cũng có lúc giật mình nghĩ đến cái chết của chính mình: sau một cơn bệnh, khi nghe tin người quen ra đi, hay giữa đêm khuya. Kinh Phật không né tránh nỗi sợ ấy, và cũng không dùng nó để hù dọa ai. Kinh chỉ ra vì sao người ta sợ, và điều gì giúp lòng yên.

Tóm lại: Đức Phật không nói ai cũng sợ chết. Trong Kinh Không Sợ Hãi (AN 4.184), Ngài kể bốn hạng người sợ chết và bốn hạng không sợ, và lý do không nằm ở may mắn mà ở cách sống: lìa tham luyến, làm điều lành, không còn nghi ngờ về Chánh pháp. Với người lo mình chết lúc tâm tán loạn, Ngài an ủi: “Đừng sợ” (SN 55.21), vì một tâm đã lâu ngày huân tập điều lành sẽ đi lên như dầu nổi trên mặt nước.

Không phải ai cũng sợ chết

Bà-la-môn Jāṇussoṇi đến gặp Đức Phật và nói quan điểm của mình: “Không có ai phải chết mà không sợ, không kinh hãi trước cái chết.” Đức Phật đáp: có người phải chết mà sợ hãi, nhưng cũng có người phải chết mà không sợ hãi (AN 4.184, đoạn 2.2–2.4). Rồi Ngài giải thích từng hạng.

Kinh kể bốn hạng người sợ chết. Khi lâm bệnh nặng, người thứ nhất, còn tham luyến dục lạc, nghĩ: những dục lạc ta yêu thích sẽ rời bỏ ta. Người thứ hai, còn tham luyến thân này, nghĩ: thân ta yêu thích sẽ rời bỏ ta. Người thứ ba nghĩ: ta chưa làm điều lành, chưa dựng chỗ nương cho lúc lo sợ, mà đã làm điều ác. Người thứ tư nghĩ: ta còn ngờ vực, chưa đi đến chỗ quyết định về Chánh pháp. Nghĩ vậy, người ấy “sầu muộn, mệt mỏi, than khóc, đấm ngực, rơi vào mê loạn” (đoạn 3.1–6.7).

Bốn hạng không sợ chết thì ngược lại: người đã lìa tham luyến dục lạc, người đã lìa tham luyến thân này, người đã sống thiện lành, và người không còn ngờ vực về Chánh pháp (đoạn 7.1–10.7). Kinh tả hạng thứ ba như sau:

Người ấy bị cảm thọ bởi chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: “Thật sự ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào mà những người không làm điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi đi đến sau khi chết, ta đi đến sanh thú ấy”. Người ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh.

Tăng Chi Bộ 4.184, đoạn 9.1–9.7

Đây là tin vui. Nỗi sợ chết không phải định mệnh. Nó có nguyên nhân, và nguyên nhân ấy ta có thể làm nhẹ đi ngay trong đời sống hằng ngày.

“Đừng sợ, Ma-ha-nam”

Ông Ma-ha-nam (Mahānāma), một cư sĩ dòng Thích-ca, thưa với Đức Phật rằng thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) đông đúc, đường sá chật hẹp; chiều tối, sau khi thăm viếng Đức Phật hay các Tỷ-kheo, ông trở vào thành, gặp voi, ngựa, xe, người chen lấn, và những lúc ấy ông quên mất niệm về Phật, Pháp, Tăng. Ông lo: “Nếu con chết vào lúc ấy, con sẽ đi về đâu?” (SN 55.21, đoạn 1.4–1.13). Câu hỏi này rất gần với người hôm nay, giữa đường phố kẹt xe và một ngày bận rộn.

Đức Phật đáp: “Đừng sợ, Ma-ha-nam, đừng sợ! Ông sẽ ra đi không xấu, cái chết của ông sẽ không xấu” (đoạn 2.1–2.2). Ngài giải thích: thân này rồi sẽ tan rã, nhưng một tâm đã lâu ngày được huân tập bằng niềm tin, giới, sự nghe học, bố thí và trí tuệ thì đi lên, hướng về chỗ cao hơn. Ngài ví: một người nhận chìm bình bơ hay bình dầu xuống hồ sâu rồi đập vỡ; mảnh sành chìm xuống, còn bơ và dầu thì nổi lên. Và Ngài nói rõ tâm của ông Ma-ha-nam đã lâu ngày được huân tập như vậy (đoạn 2.3–3.6). Điều quyết định không phải là khoảnh khắc cuối cùng ta có kịp tỉnh táo hay không, mà là cả một đời sống ta đã sống.

Nghĩ đến cái chết để sống tử tế hơn

Tăng Chi Bộ 5.57 dạy mọi người thường quán xét: “Ta phải chết, không thoát khỏi chết” (AN 5.57, đoạn 1.5). Lý do được nói rõ: có những chúng sinh say sưa với mạng sống, do say sưa ấy mà làm ác; nhờ quán xét, sự say sưa ấy giảm đi (đoạn 4.1–4.3). Quán về cái chết, theo kinh, là để sống tốt hơn, không phải để sống trong sợ hãi.

Pháp Cú có một câu rất hiền: người khác không hiểu rằng chúng ta rồi sẽ chết; những ai hiểu được điều ấy, nhờ vậy mà tranh chấp lắng yên (Pháp Cú, kệ 6). Thử hình dung hai anh em đang giận nhau vì một mảnh đất. Nếu cả hai cùng nhớ rằng mình rồi sẽ ra đi, mảnh đất ấy bỗng nhỏ lại, còn tình anh em thì lớn lên.

Khi thân yếu đi

Ông Nakulapitā, tuổi đã cao, thân thể bệnh hoạn, xin Đức Phật một lời dạy. Ngài nói: “Thân tôi đau ốm, nhưng tâm tôi sẽ không đau ốm”, ông hãy tự rèn luyện như vậy (Tương Ưng Bộ 22.1, đoạn 3.5). Thân này sẽ già, sẽ bệnh, đó là điều không ai tránh được. Nhưng tâm có thể được chăm sóc để không hoảng loạn theo thân. Bài Bệnh tật và cái chết và Luân hồi là gì nói thêm về những điều này.

Một gợi ý nhỏ

Mỗi tối, trước khi ngủ, hãy tự hỏi nhẹ nhàng: “Hôm nay mình đã làm một điều lành nào?” Một lời hỏi thăm cha mẹ, một bữa cơm chia sẻ, một lần nhịn được câu nói nặng. Theo Kinh Không Sợ Hãi, mỗi điều như vậy là một viên gạch xây chỗ che chở cho lòng mình. Không cần nghĩ nhiều về cái chết. Chỉ cần sống mỗi ngày sao cho, nếu hôm nay là ngày cuối, lòng mình vẫn có thể yên.

Viết bởi Tuệ Minh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 4.184, Kinh Không Sợ Hãi (Abhaya Sutta), AN 4.184 trên SuttaCentral.
  2. Tương Ưng Bộ 55.21, Kinh Mahānāma thứ nhất (Paṭhamamahānāma Sutta), SN 55.21 trên SuttaCentral.
  3. Tăng Chi Bộ 5.57, Kinh Năm Điều Nên Thường Quán Xét (Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhāna Sutta), AN 5.57 trên SuttaCentral.
  4. Pháp Cú, phẩm Song Yếu, kệ 6, Dhp 1–20 trên SuttaCentral.
  5. Tương Ưng Bộ 22.1, Kinh Nakulapitā (Nakulapitu Sutta), SN 22.1 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  7. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh