Hiểu đúng

Tu có phải là trốn tránh cuộc đời

“Đi tu là trốn đời” và “ở nhà thì sao mà tu” là hai câu ta hay nghe, nghe như trái nhau. Thật ra chúng có chung một giả định: tu là việc của chùa, đời là việc của nhà. Kinh Pāli không nhìn như vậy.

Tóm lại: Kinh Pāli không xem tu tập là trốn tránh cuộc đời. Đức Phật khen sự thực hành đúng của cả người tại gia lẫn người xuất gia, và không khen sự thực hành sai của bên nào (MN 99). Ngài dạy một chàng trai cách sống trọn với cha mẹ, vợ con, bạn bè, người làm (DN 31), dạy một vị vua sống không phóng dật giữa việc nước (SN 3.17). Người xuất gia cũng có bổn phận với người tại gia (DN 31). Tu là đối diện khổ để hiểu và vượt qua, không phải chạy khỏi nó.

Không phải ở đâu, mà là thực hành thế nào

Thanh niên Subha thưa với Đức Phật rằng các Bà-la-môn cho người tại gia mới thành tựu chánh pháp, còn người xuất gia thì không. Đức Phật đáp:

—Này thanh niên Bà-la-môn, ở đây, Ta chủ trương phân tích; ở đây, Ta không chủ trương nói một chiều. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta không tán thán tà đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia. Này Thanh niên Bà-la-môn, kẻ tại gia hay kẻ xuất gia hành tà đạo, do nhân duyên hành tà đạo, không thành tựu được chánh đạo thiện pháp. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta tán thán chánh đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia. Này Thanh niên Bà-la-môn, kẻ tại gia hay kẻ xuất gia hành chánh đạo, do nhân duyên hành chánh đạo, thành tựu được chánh đạo thiện pháp.

Trung Bộ 99, đoạn 4.4–4.9

Câu trả lời không xếp hạng nơi chốn. Một người ở nhà sống buông thả không vì ở nhà mà thành “sống thật với đời”. Một người vào chùa chỉ để khỏi phải đối diện nợ nần hay giận hờn cũng không vì khoác áo tu mà thành người tu. Điều quyết định là thực hành đúng hay sai.

Tu ngay giữa những bổn phận

Kinh Thi-ca-la-việt là bài kinh dài Đức Phật dạy riêng cho một người tại gia. Ngài không bảo chàng Thi-ca-la-việt (Siṅgālaka) bỏ nhà, mà dạy anh “đảnh lễ sáu phương” theo nghĩa mới: phương Đông là cha mẹ, phương Nam là thầy dạy, phương Tây là vợ con, phương Bắc là bạn bè và đồng sự, phương dưới là người giúp việc và người làm công, phương trên là các Sa-môn, Bà-la-môn (DN 31, đoạn 27.1–27.3). Mỗi phương có những bổn phận rất cụ thể: nuôi lại cha mẹ, tôn trọng vợ, giao việc vừa sức và trả công cho người làm, cho họ nghỉ đúng lúc (đoạn 28.2, 30.2, 32.2). Ngay phần đầu kinh, người tránh được các nghiệp ô nhiễm và các cửa hao tổn tài sản được gọi là người “đang đi trên con đường chiến thắng cả hai đời” (đoạn 3.1–3.2).

Với vua Ba-tư-nặc (Pasenadi), người đang gánh cả một vương quốc, Đức Phật không khuyên thoái vị. Khi vua hỏi có pháp nào đem lại lợi ích cả đời này lẫn đời sau, Ngài đáp: đó là không phóng dật, tức không buông lung, luôn tỉnh táo; như dấu chân voi bao trùm dấu chân mọi loài, không phóng dật bao trùm cả hai lợi ích (SN 3.17, đoạn 4.1–4.5). Ở bài kế tiếp, Ngài dạy vua hãy có bạn lành, và sống nương vào không phóng dật trong các thiện pháp (SN 3.18, đoạn 7.1–8.2). Tăng Chi Bộ 4.62 thì kể bốn niềm vui chính đáng của người tại gia: có của cải làm ra chân chánh, được dùng của cải, không mắc nợ, và không lỗi lầm (AN 4.62, đoạn 2.1–2.3).

Người xuất gia có quay lưng với đời không

Cũng trong Kinh Thi-ca-la-việt, các Sa-môn được người tại gia phụng sự thì có sáu bổn phận ngược lại: ngăn người ấy làm điều ác, giúp người ấy đứng vững trong điều lành, thương tưởng người ấy với tâm từ, giảng điều người ấy chưa biết, làm sáng tỏ điều người ấy đã nghe, chỉ con đường lên cõi trời (DN 31, đoạn 33.4). Đó là một mối quan hệ hai chiều, không phải một cánh cửa đóng lại. Đức Phật nói với Ngài A-nan (Ānanda): “chính nhờ nương vào Ta là người bạn lành mà chúng sinh vốn phải sinh được thoát khỏi sinh, vốn phải già được thoát khỏi già, vốn phải chết được thoát khỏi chết” (SN 45.2, đoạn 4.2). Người tu đúng là người bạn lành của đời.

Đời sống xuất gia đơn giản hơn về vật chất, nhưng không dễ hơn về nội tâm. Không còn công việc hay giải trí để che lấp, người xuất gia phải đối diện với chính tâm mình mỗi ngày.

Tu là đối diện, không phải né tránh

Thử hình dung anh Minh đang căng thẳng vì cãi nhau với vợ, đăng ký một khóa thiền mười ngày với ý nghĩ “cho khỏi phải về nhà”. Ngày thứ ba, ngồi yên, anh thấy cơn giận cứ quay lại, và thấy rõ phần lỗi của mình mà lâu nay anh không chịu nhìn. Khóa thiền kết thúc, anh về nhà và nói lời xin lỗi trước. Khóa thiền không giúp anh trốn; nó giúp anh trở về. Các bài Tu tại gia hay xuất gia, Phật tử tại gia sống thế nào và Bận rộn vẫn tu được có thêm gợi ý cho người sống giữa đời.

Một gợi ý nhỏ

Chọn một “phương” trong sáu phương mà bạn đang lơ là nhất, có thể là cha mẹ, có thể là đồng nghiệp, và làm cho người ấy một việc cụ thể trong tuần này. Đó cũng là tu.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Trung Bộ 99, Kinh Subha, MN 99 trên SuttaCentral.
  2. Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Siṅgālaka Sutta), DN 31 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 3.17, Kinh Không Phóng Dật (Appamāda Sutta), SN 3.17 trên SuttaCentral; Tương Ưng Bộ 3.18, Kinh Bạn Lành, SN 3.18 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 4.62, Kinh Bốn Niềm Vui Của Người Tại Gia, AN 4.62 trên SuttaCentral.
  5. Tương Ưng Bộ 45.2, Kinh Thiện Hữu, SN 45.2 trên SuttaCentral.
  6. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  7. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện cùng chủ đề

Các tích truyện dưới đây cùng chủ đề với bài, kể theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh