Tích Nhóm Lục Sư Đe Dọa
Chabbaggiyabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 130 Kinh Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 130) “Sabbe tasanti daṇḍassa, “Mọi người sợ hình phạt, Sabbesaṃ jīvitaṃ piyaṃ; Mọi người thương sống còn; Attānaṃ upamaṃ katvā, Lấy mình làm ví dụ, Na haneyya na ghātaye.” Không giết, không bảo giết.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi Ngài an ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến nhóm Lục Sư như trước.
Quả vậy, trong lúc nọ, do nhóm Lục Sư đánh Tỳ khưu nhóm Thập Thất Sư, nên Học giới trước đã được ban hành. Lần này cũng do nhóm đó sanh chuyện, nhưng chỉ giá tay hăm đánh các vị sau mà thôi.
Ở đây, Đức Bổn Sư nghe tiếng kêu la của các Tỳ khưu trẻ, bèn hỏi:
- Chuyện chi vậy?
- Bạch Thế Tôn, chuyện nầy…
Đức Bổn Sư dạy: “Nầy các Tỳ khưu, từ rày về sau, Tỳ khưu không nên làm vậy, thầy nào làm, phạm Ưng đối trị.”. Sau khi ban hành Học giới cấm các Tỳ khưu giá tay đánh các vị khác. Đức Bổn Sư giải thích: “Nầy các Tỳ khưu, phàm là Tỳ khưu thì không nên đánh đập, không nên giết hại, vì biết rằng: “Cũng như ta, những người khác đều sợ đao trượng, hễ ta yêu đời, ham sống như thế nào thì họ cũng giống như ta vậy.”.
Nói rồi, Đức Bổn Sư thuyết pháp và ngâm kệ rằng:
“Sabbe tasanti daṇḍassa,
Sabbesaṃ jīvitaṃ piyaṃ;
Attānaṃ upamaṃ katvā,
Na haneyya na ghātaye.”
Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng thích được sống còn; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết.
(Bản dịch của T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Sabbesaṃ jīvitaṃ piyaṃ: trừ bậc Lậu Tận, tất cả chúng sanh còn lại đều yêu quí đời sống. Đối với việc sống chết ở đời, bậc Lậu Tận cũng chỉ có tâm Xả (Uppekkhā), là thản nhiên mà thôi.
Ba câu kệ kia thì nghĩa như trước.
Cuối thời Pháp, nhiều Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là quả Tu Đà Hườn.
Lục Sư đã bị cấm đánh rồi.
Nên chỉ giơ tay dọa nạt thôi,
Nhóm Thập Thất Sư còn khiếp sợ,
La ầm như bị phỏng dầu sôi.
Phật cấm Tỳ khưu dọa nạt nhau,
Người người thích sống, sợ gươm đao,
Không nên bảo giết, không nên giết,
Ai cũng như ai, có khác nào?
DỨT TÍCH NHÓM LỤC SƯ ĐE DỌA
Chabbaggiyabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Sabbe tasantīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto chabbaggiye bhikkhū ārabbha kathesi.
Teyeva ekasmiñhi samaye teneva kāraṇena purimasikkhāpade sattarasavaggiye pahariṃsu. Teneva kāraṇena tesaṃ talasattikaṃ uggiriṃsu. Idhāpi satthā tesaṃ saddaṃ sutvā “kiṃ ida”nti pucchitvā “idaṃ nāmā”ti ārocite “na, bhikkhave, ito paṭṭhāya bhikkhunā nāma evaṃ kattabbaṃ, yo karoti, so imaṃ nāma āpattiṃ āpajjatī”ti talasattikasikkhāpadaṃ (pāci. 454 ādayo) paññāpetvā, “bhikkhave, bhikkhunā nāma ‘yathā ahaṃ, tatheva aññepi daṇḍassa tasanti, yathā ca mayhaṃ, tatheva nesaṃ jīvitaṃ piya’nti ñatvā paro na paharitabbo na ghāṭetabbo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Sabbe tasanti daṇḍassa, sabbesaṃ jīvitaṃ piyaṃ;
Attānaṃ upamaṃ katvā, na haneyya na ghātaye”ti.
Tattha sabbesaṃ jīvitaṃ piyanti khīṇāsavaṃ ṭhapetvā sesasattānaṃ jīvitaṃ piyaṃ madhuraṃ, khīṇāsavo pana jīvite vā maraṇe vā upekkhakova hoti. Sesaṃ purimasadisamevāti.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Chabbaggiyabhikkhuvatthu dutiyaṃ.
X. 2. The Band of Six
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
130. All men tremble...
This religious instruction was also given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the monks of the Band of Six.
For once upon a time, the circumstances being the same as those which attended the promulgation of the foregoing precept, the monks of the Band of Six struck the monks of the Band of Seventeen, whereupon the latter made threatening gestures. On this occasion also the Teacher heard the outcry made by the latter and asked, “What is that?” Informed of the cause, he promulgated the precept regarding threatening gestures, saying, “Monks, henceforth no monk should do any such thing. Whoever does this is guilty of sin.” Having so done, he said, “Monks, a monk should consider, ‘As do I, so also do others tremble at the rod; as do I, so also do others cherish life.’ And bearing this thought in mind, he should neither strike another nor kill another.” So saying, he joined the connection and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
130. All men tremble at the rod; to all men life is dear.
One should treat one’s neighbor as oneself, and should neither strike nor kill.
- Derived from the Vinaya, Pācittiya, Ixxv. 1: iv. 146-147. Text: N iii. 49-50.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.