Đời sống

Nuôi thú cưng theo lời Phật dạy

Con chó chạy ra cổng mỗi chiều, con mèo cuộn tròn bên chân lúc bạn đọc sách: với nhiều gia đình, thú cưng đã là một thành viên. Kinh Phật không có chương nào dạy cách nuôi chó mèo, nhưng có những lời rất rõ về cách đối xử với mọi loài có sự sống.

Tóm lại: Kinh không dạy cách nuôi thú cưng, nhưng dạy rải tâm từ đến mọi loài, kể cả “loài bốn chân” (AN 4.67), lấy mình suy ra loài khác vì ai cũng sợ đòn roi (Dhp 129–130), và không xem sinh mạng như món hàng (AN 5.177). Nuôi thú cưng theo lời Phật là nuôi với lòng từ và trách nhiệm, thương mà không để tình thương thành trói buộc.

Mọi loài đều nằm trong vòng tâm từ

Kinh Từ Bi không chừa ra một loài nào: “Bất cứ chúng sinh nào đang có mặt, yếu hay mạnh, không sót một loài nào”, thấy được hay không thấy được, ở xa hay ở gần, “mong tất cả chúng sinh được hạnh phúc” (Kinh Tập 1.8, kệ 4–5). Rồi kinh đưa ra hình ảnh người mẹ dùng cả mạng sống che chở đứa con một, và dạy hãy tu tập một tâm vô lượng như thế đối với mọi loài (kệ 7). Con chó, con mèo trong nhà bạn là những chúng sinh gần nhất để tập tâm ấy mỗi ngày.

Tăng Chi Bộ 4.67 kể một vị Tỷ-kheo ở Xá-vệ (Sāvatthī) chết vì rắn cắn. Đức Phật nói vị ấy hẳn đã không rải tâm từ đến các dòng rắn, rồi dạy một bài kệ để rải tâm từ, trong đó có những câu rất giản dị:

Ta hãy có từ tâm
Với các loài không chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài hai chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài bốn chân,
Ta hãy có từ tâm,
Với các loài nhiều chân,
Mong rằng loài không chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài hai chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài bốn chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài nhiều chân
Không có làm hại ta,
Mọi chúng sanh, hữu tình
Toàn thể mọi sinh vật,
Mong chúng thấy hiền thiện,
Chớ đi đến điều ác.

Tăng Chi Bộ 4.67, đoạn 6.1–6.4 và 8.1–8.4

Theo truyền thống tụng hộ trì của Phật giáo Nam truyền, bài kệ này được tụng với tên Khandha paritta. Bài kinh nói về loài rắn ngoài rừng, nhưng câu “tôi thương loài bốn chân” đọc lên giữa một căn nhà có chó mèo thì thấy rất gần.

Lấy mình suy ra loài vật

Pháp Cú dạy: “Ai ai cũng run trước đòn roi, ai ai cũng sợ chết; lấy chính mình mà suy ra người, đừng giết, đừng xui ai giết” (Pháp Cú, kệ 129–130). Con vật không nói được, nhưng biết nóng, biết đói, biết sợ. Thử hình dung một chú chó bị xích ngoài sân giữa trưa tháng Năm, bát nước đã cạn. Chủ nhà không hề muốn hại nó, chỉ là quên. Chánh niệm trong việc nuôi thú cưng nhiều khi chỉ là nhớ: nhớ châm nước, nhớ dời chỗ nằm vào bóng mát, nhớ đưa đi chữa khi nó bỏ ăn.

Giới thứ nhất là tránh xa việc sát sinh. Tăng Chi Bộ 8.39 gọi việc giữ giới ấy là một món quà lớn: người tránh xa sát sinh “đã cho vô lượng chúng sinh sự không sợ hãi, cho sự không thù oán, cho sự không làm hại” (AN 8.39, đoạn 3.6). Một con vật sống trong nhà bạn mà không phải sợ bị đánh, bị bỏ đói, là nó đang nhận món quà ấy.

Mua bán thú cưng: kinh nói gì

Tăng Chi Bộ 5.177 nêu năm nghề người cư sĩ không nên làm: “Buôn bán vũ khí, buôn bán chúng sinh, buôn bán thịt, buôn bán chất say, buôn bán chất độc” (AN 5.177, đoạn 1.3). Theo Chú giải Tăng Chi Bộ, chữ “buôn bán chúng sinh” (sattavaṇijjā) ở đây được giải là buôn bán người (manussavikkaya). Kinh không bàn đến chuyện mua một chú mèo về nuôi, và ta không nên nói quá lời kinh.

Tuy vậy, tinh thần của bài kinh rất rõ: đừng biến sự sống thành món hàng. Nếu có thể, hãy nhận nuôi một con vật đang cần nhà. Nếu mua, hãy để ý con vật được nuôi thế nào trước khi đến tay mình. Và một khi đã đem về, đừng bỏ rơi nó khi nó già, khi nó bệnh, hay khi mình chán. Thả thú nuôi ra đường hay ra rừng không phải là phóng sinh, vì con vật quen sống cạnh người khó tự xoay xở; bài Phóng sinh theo lời Phật nói kỹ hơn về điều này.

Thương mà không trói buộc

Thú cưng sống ngắn hơn người, nên người nuôi gần như chắc chắn sẽ tiễn nó đi. Tăng Chi Bộ 5.57 dạy mọi người thường quán xét: “Ta phải xa lìa, phải chia ly với tất cả những gì ta yêu quý, ưa thích” (AN 5.57, đoạn 1.6). Nhớ điều này không làm bạn thương nó ít đi. Ngược lại, bạn sẽ quý từng buổi chiều dắt nó đi dạo.

Khi con vật già yếu, đau đớn, nhiều người đứng trước những quyết định khó. Giới thứ nhất nói về việc cố ý làm hại sự sống, còn tình huống thú y ngày nay thì kinh không bàn trực tiếp. Không ai nên phán xét người đang đau lòng trong lúc ấy, và bạn cũng không cần tự trách mình vì đã phải cân nhắc. Bạn có thể hỏi bác sĩ thú y về cách giảm đau, chăm sóc cuối đời, và trò chuyện với một vị thầy bạn tin cậy trước khi quyết định. Dù quyết định thế nào, những năm tháng bạn đã chăm nó là những năm tháng của lòng từ.

Một gợi ý nhỏ

Mỗi lần đổ thức ăn vào bát cho chó mèo, hãy dừng lại một hơi thở và nói thầm câu trong Kinh Từ Bi: “Mong mọi loài được an vui, an ổn” (kệ 3). Bắt đầu từ con vật trước mặt, rồi mở rộng ra con chó hàng xóm, con mèo hoang ngoài ngõ. Bài Tâm từ là gì chỉ thêm cách tập.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi (Karaṇīya Metta Sutta), Snp 1.8 trên SuttaCentral.
  2. Tăng Chi Bộ 4.67, Kinh Vua Rắn (Ahirāja Sutta), AN 4.67 trên SuttaCentral.
  3. Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, kệ 129–130, Dhp 129–145 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 8.39, Kinh Nguồn Phước (Abhisanda Sutta), AN 8.39 trên SuttaCentral.
  5. Tăng Chi Bộ 5.177, Kinh Năm Nghề Buôn Bán (Vaṇijjā Sutta), AN 5.177 trên SuttaCentral.
  6. Tăng Chi Bộ 5.57, Kinh Năm Điều Nên Thường Quán Xét (Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhāna Sutta), AN 5.57 trên SuttaCentral.
  7. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  8. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh