Tích Nhóm Lục Sư Hành Hung
Chabbaggiyabhikkhuvatthu
Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói kệ 129 Kinh Pháp Cú, phẩm Hình Phạt, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā). Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli.
Bản Việt · Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli
KỆ NGÔN: (Pháp Cú số 129)
“Sabbe tasanti daṇḍassa,
Sabbe bhāyanti maccuno;
Attānaṃ upamaṃ katvā,
Na haneyya na ghātaye.”
“Mọi người sợ hình phạt,
Mọi người sợ tử vong,
Lấy mình làm ví dụ,
Không giết, không bảo giết.”
(Bản dịch của Ngài H.T. Minh Châu)
Kệ Pháp Cú nầy, Đức Bổn Sư đã thuyết khi ngự tại Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự), đề cập đến một nhóm Lục Sư gồm có sáu vị Tỳ khưu.
Quả vậy, một lúc nọ, các Tỳ khưu trong nhóm mười bảy vị vừa sửa sang chỗ ngụ xong, liền bị các Tỳ khưu trong nhóm Sáu vị (Lục Sư) đến đuổi:
- Các đạo hữu hãy đi ra, chúng tôi lớn hạ hơn, mới có quyền cư ngụ chỗ nầy.
Các Tỳ khưu nhỏ hạ đáp:
- Chúng tôi sẽ không nhường chỗ cho các Ngài, vì lẽ chúng tôi đã đến đây trước và đã quét dọn sửa sang rồi.
Nghe nói vậy, nhóm Lục Sư đánh đập nhóm Thập Thất Sư. Nhóm sau nầy hoảng hốt, sợ chết, la hét rầm lên. Đức Bổn Sư nghe tiếng kêu la của họ, bèn hỏi:
- Chuyện gì vậy?
Chư Tăng bạch: “Chuyện nầy…”.
Đức Bổn Sư ban hành Học giới cấm đánh đập Tỳ
khưu rằng: “Nầy các Tỳ khưu, từ rày về sau, các Tỳ khưu không nên làm như vậy, thầy nào làm vậy phạm tội Ưng đối trị.”.
Ngài dạy tiếp rằng: “Nầy các Tỳ khưu, phàm là Tỳ khưu thì nhất định không nên đánh đập, không nên giết hại, vì đã biết rằng: những người khác cũng như ta, ai ai cũng đều sợ đao trượng, đều sợ tử thần cả.”. Nói rồi, Ngài thuyết pháp và kết luận bằng bài kệ nầy:
“Sabbe tasanti daṇḍassa,
Sabbe bhāyanti maccuno;
Attānaṃ upamaṃ katvā,
Na haneyya na ghātaye.”
Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết; vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết.
(Bản dịch của Ngài T.K. Trí Đức)
CHÚ GIẢI:
Sabbe tasanti: tất cả chúng sanh đều sợ ăn đòn, sợ đao trượng phạm đến mình.
Maccuno: sợ tử thần, tức là sợ chết. Hai câu kệ đầu nói phổ cập đến tất cả mọi người, không bỏ sót một ai, là nói theo lối thông thường.
Quả nhiên, ví như Đức vua cho người đi cổ động (đánh trống) truyền rao dân chúng tập họp, trừ ra quan Tể tướng, kỳ dư tất cả đều phải tập họp vì sợ hình phạt của nhà vua. Tuy nhiên, cũng có bốn hạng là bậc Lậu Tận, voi thuần chủng, ngựa thuần chủng và bò mộng không bị khép trong số tất cả những người rung động vì sợ chết.
Bậc Lậu Tận đã dứt bỏ Thân kiến, không thấy chúng sanh nào không chết cho nên không sợ chết. Còn ba hạng kia, tuy còn Thân kiến nhưng tự tin nơi sức khỏe của mình, không thấy có chúng sanh nào là tay đối thủ cho nên cũng không sợ.
Na haneyya na ghātaye: hãy tự xét: “mình thế nào thì những chúng sanh khác cũng không giống vậy”, không nên giết, không nên xúi giết kẻ khác.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu đắc Thánh quả, nhất là Tu Đà Hườn quả.
Mới dọn cốc rồi, chưa ở yên,
Lục Sư chợt đến, đuổi đi liền,
Các Sư “Thập thất” không tuân lệnh,
Bị đánh, la ầm tợ lũ điên,
Phật biết, ban hành Luật cấm ngăn,
Tỳ khưu không được đánh chư Tăng!
Người người sợ chết, e đao trượng,
Phải cử sát sanh, giữ Đạo hằng!
DỨT TÍCH NHÓM LỤC SƯ HÀNH HUNG
Chabbaggiyabhikkhuvatthu
Bản Pāli · Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka
Sabbe tasantīti imaṃ dhammadesanaṃ satthā jetavane viharanto chabbaggiye bhikkhū ārabbha kathesi.
Ekasmiñhi samaye sattarasavaggiyehi senāsane paṭijaggite chabbaggiyā bhikkhū “nikkhamatha, mayaṃ mahallakatarā, amhākaṃ etaṃ pāpuṇātī”ti vatvā tehi “na mayaṃ dassāma, amhehi paṭhamaṃ paṭijaggita”nti vutte te bhikkhū pahariṃsu. Sattarasavaggiyā maraṇabhayatajjitā mahāviravaṃ viraviṃsu. Satthā tesaṃ saddaṃ sutvā “kiṃ ida”nti pucchitvā “idaṃ nāmā”ti ārocite “na, bhikkhave, ito paṭṭhāya bhikkhunā nāma evaṃ kattabbaṃ, yo karoti, so imaṃ nāma āpattiṃ āpajjatī”ti pahāradānasikkhāpadaṃ (pāci. 449 ādayo) paññāpetvā, “bhikkhave, bhikkhunā nāma ‘yathā ahaṃ, tatheva aññepi daṇḍassa tasanti, maccuno bhāyantī’ti ñatvā paro na paharitabbo, na ghātetabbo”ti vatvā anusandhiṃ ghaṭetvā dhammaṃ desento imaṃ gāthamāha –
“Sabbe tasanti daṇḍassa, sabbe bhāyanti maccuno;
Attānaṃ upamaṃ katvā, na haneyya na ghātaye”ti.
Tattha sabbe tasantīti sabbepi sattā attani daṇḍe patante tassa daṇḍassa tasanti. Maccunoti maraṇassāpi bhāyantiyeva. Imissā ca desanāya byañjanaṃ niravasesaṃ, attho pana sāvaseso. Yathā hi raññā “sabbe sannipatantū”ti bheriyā carāpitāyapi rājamahāmatte ṭhapetvā sesā sannipatanti, evamidha “sabbe tasantī”ti vuttepi hatthājāneyyo assājāneyyo usabhājāneyyo khīṇāsavoti ime cattāro ṭhapetvā avasesāva tasantīti veditabbā. Imesu hi khīṇāsavo sakkāyadiṭṭhiyā pahīnattā maraṇakasattaṃ apassanto na bhāyati, itare tayo sakkāyadiṭṭhiyā balavattā attano paṭipakkhabhūtaṃ sattaṃ apassantā na bhāyantīti. Na haneyya na ghātayeti yathā ahaṃ, evaṃ aññepi sattāti neva paraṃ pahareyya na paharāpeyyāti attho.
Desanāvasāne bahū sotāpattiphalādīni pāpuṇiṃsūti.
Chabbaggiyabhikkhuvatthu paṭhamaṃ.
X. 1. The Band of Six
Bản Anh · E. W. Burlingame, Buddhist Legends (1921)
129. All men tremble...
This religious instruction was given by the Teacher while he was in residence at Jetavana with reference to the monks of the Band of Six.
For once upon a time, when lodging had been made ready by the monks of the Band of Seventeen, the monks of the Band of Six said to the former, “We are older; this belongs to us.” The Band of Seventeen replied, “We will not give it to you; we were the first to make it ready.” Then the Band of Six struck their brother monks. The Band of Seventeen, terrified by the fear of death, screamed at the top of their lungs. The Teacher, hearing the outcry, asked, “What was that?” When they told him, he promulgated the precept regarding the delivering of blows, saying, “Monks, henceforth a monk must not do this; whoever does this is guilty of sin.” Having so done, he said, “Monks, one should say to himself, ‘As do I, so also do others tremble at the rod and fear death.’ Therefore one should not strike another or kill another.” So saying, he joined the connection, and preaching the Law, pronounced the following Stanza,
129. All men tremble at the rod; all men fear death.
One should treat one’s neighbor as oneself, and therefore neither strike nor kill.
- Derived from the Vinaya, Culla Vagga, vi. 11: ii. 166-167; Pācittiya, Ixxiv. 1: iv. 145-146. Text: N iii. 48-49.
Biên tập trang: Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Bản Việt: Trưởng lão Pháp Minh dịch từ Pāli, Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), quyển 3, NXB Tôn Giáo, 2011; bản số hoá trên theravada.vn. Chép nguyên văn bản dịch, chỉ trình bày lại cho dễ đọc.
- Bản Pāli: Dhammapada-aṭṭhakathā, Chaṭṭhasaṅgāyana Tipiṭaka, Viện Nghiên cứu Vipassana (VRI), tipitaka.org.
- Bản Anh: Eugene Watson Burlingame dịch, Buddhist Legends, Harvard Oriental Series 28–30, 1921 (thuộc phạm vi công cộng); bản số hoá do Ānandajoti Bhikkhu hiệu đính, ancient-buddhist-texts.net.
- Bản dịch tiếng Việt thuộc quyền của dịch giả và nơi ấn hành, được đăng để học Pháp, không thu phí. Nếu chủ sở hữu bản quyền yêu cầu, xin liên hệ Hoan Hỉ (0902 332 970) để chúng tôi điều chỉnh ngay.