Cách quên một người sau chia tay: Phật dạy tháo dây, đừng ép quên
Sau chia tay, câu nhiều người gõ vào máy tìm kiếm là: làm sao để quên một người? Có người xóa hết hình, chặn số, dọn sạch đồ, vậy mà người ấy vẫn hiện lên giữa giờ làm, giữa bữa cơm, ngay lúc sắp ngủ. Trong các bài kinh bài này dẫn không thấy bài nào dạy xóa trí nhớ về một người, nhưng có những bài nói về sợi dây giữ ta với người cũ và cách đối xử với ý nghĩ cứ quay lại. Bài này đi qua ba bài kinh ấy, và nói rõ chỗ nào là lời kinh, chỗ nào là cách đọc của người viết.
Nếu điều bạn cần trước hết là hiểu vì sao chia tay lại đau, bài Thất tình, chia tay: Phật dạy gì để lòng bớt đau đã nói về mũi tên thứ hai và quy luật xa lìa. Bài này đi tiếp một bước: nỗi đau đã có, người ấy đã đi, nhưng ý nghĩ về người ấy cứ quay lại thì làm sao.
Sợi dây nào đang giữ ta lại
Nhiều người kể rằng càng cố không nghĩ đến một người thì người ấy càng hiện ra nhiều hơn. Đó là kinh nghiệm thường gặp; kinh không bàn thẳng câu ấy, nên người viết không đặt nó thành một quy luật. Điều kinh có là một bài kệ nói về sợi dây. Trong Phẩm Hỷ Ái của Kinh Pháp Cú (Dhp 209–220), kệ 210 viết: “Yêu không gặp là khổ, / Oán phải gặp cũng đau” (Dhp 210:3–4; Pāli: Piyānaṁ adassanaṁ dukkhaṁ, appiyānañca dassanaṁ).
Chú ý rằng kệ đặt hai chiều cạnh nhau: nỗi khổ của người thương mà không được gặp, và nỗi khổ của người ghét mà phải gặp. Kệ tiếp theo nói điều ngược lại, về người đã thoát: “Những ai không yêu ghét, / Không thể có buộc ràng” (Dhp 211:3–4; Pāli: Ganthā tesaṁ na vijjanti, yesaṁ natthi piyāppiyaṁ). Chữ ganthā nghĩa là cái nút buộc, cái ràng buộc; piyāppiyaṁ là cái mình ưa và cái mình không ưa.
Theo cách đọc của người viết, điều đáng suy nghĩ là sợi dây ở đây không chỉ làm bằng thương. Sau chia tay, có người thương nhớ, có người giận, có người thay phiên cả hai. Hỏi dò bạn chung xem người cũ dạo này ra sao, kể lể về lỗi của họ, soạn sẵn trong đầu câu trả đũa, đều là cách giữ người ấy trong lòng, cũng như nhớ vậy. Dây ghét cũng là dây. Nếu cách đọc này đúng với trường hợp của bạn, việc cần tháo là cả hai loại dây.
Bài Tha thứ khi bị tổn thương nói riêng về sợi dây oán giận.
Dây buộc vào đâu: Kinh Nakulapitā
Nakulapitā là một gia chủ đã già và hay đau ốm. Ông đến xin Đức Phật một lời dạy để dùng lâu dài. Đức Phật bảo ông tập một điều: “Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh” (SN 22.1:3.5; Pāli: āturakāyassa me sato cittaṁ anāturaṁ bhavissatī). Sau đó ông đến gặp Tôn giả Sāriputta, kể lại, và được giảng thêm hai trường hợp: thân bệnh mà tâm cũng bệnh, và thân bệnh mà tâm không bệnh (SN 22.1).
Lời giảng của Tôn giả Sāriputta xoay quanh năm uẩn của chính mình: sắc (thân), thọ (cảm giác vui buồn), tưởng (sự nhận ra, nhớ hình ảnh), hành (các ý muốn, tạo tác) và thức (sự biết). Người chưa được học Pháp xem sắc là một thứ để bám: “Sắc là ta, sắc là của ta” (SN 22.1:9.4; Pāli: Ahaṁ rūpaṁ, mama rūpan). Khi sắc đổi khác, vị ấy “khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não” (SN 22.1:9.6; Pāli: uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā). Kinh nói y như vậy với thọ, tưởng, hành, thức (SN 22.1:10.1–13.4). Còn người đã học Pháp thì sắc vẫn đổi khác, và kinh nói: “nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não” (SN 22.1:14.6; Pāli: rūpavipariṇāmaññathābhāvā nuppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā).
Cần nói rõ: bài kinh này nói về năm uẩn của chính mình, không nói về người yêu. Việc đem nó sang chuyện chia tay là cách đọc của người viết. Cách đọc ấy dựa vào một chi tiết: chuỗi chữ Pāli chỉ nỗi đau ở đây, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā, cũng chính là chuỗi chữ trong câu của Kinh Ái Sanh (MN 87:3.9) nói rằng nỗi đau sinh ra từ cái mình thân yêu. Theo cách đọc của người viết, Kinh Ái Sanh nói nỗi đau đến từ đâu, còn Kinh Nakulapitā cho thấy cơ chế đứng sau: khi điều mình coi là của ta bị đổi khác, nỗi đau nổi lên.
Sau chia tay, nhiều thứ mình quen coi là của mình bị rút đi: người ấy, tin nhắn chào buổi sáng, kế hoạch năm sau, cả hình dung về mình khi có người ấy. Theo cách đọc của người viết, nỗi đau lớn hay nhỏ còn tùy mình đã đặt bao nhiêu phần của mình vào đó. Kinh không bảo bạn đừng thương. Kinh dạy một bài tập đứng vững: dù chuyện đang đau, tâm vẫn tập để không bị bệnh theo. Đây là bài tập đứng vững, không phải bài tập quên.
Khi ý nghĩ cứ quay lại: năm bước của Kinh An Trú Tầm
Kinh An Trú Tầm (MN 20) là lời Đức Phật nói với các Tỷ-kheo về những ý nghĩ vitakka (tầm) bất thiện, liên hệ đến dục, đến sân, đến si, cứ nổi lên khi đang tu. Bài kinh dành cho người xuất gia; việc áp dụng cho nỗi nhớ người cũ là cách đọc của người viết. Theo cách đọc ấy, ý nghĩ khao khát gặp lại thuộc phía dục, ý nghĩ giận hờn thuộc phía sân, còn ý nghĩ tự trách mơ hồ hay mộng tưởng thuộc phía si.
Điều đáng quý của bài kinh là năm bước đi theo thứ tự từ nhẹ đến mạnh, và chỉ chuyển sang bước sau khi bước trước vẫn chưa đủ (MN 20:4.1, 5.1, 6.1, 7.1).
Bước một, đổi sang một đề mục thiện. Kinh dạy: “tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia” (MN 20:3.1; Pāli: aññaṁ nimittaṁ manasi kātabbaṁ kusalūpasaṁhitaṁ). Ví dụ Đức Phật đưa ra là người thợ mộc thiện xảo, “dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác” (MN 20:3.4; Pāli: sukhumāya āṇiyā oḷārikaṁ āṇiṁ abhinihaneyya abhinīhareyya abhinivatteyya). Theo cách đọc của người viết, thiện ở đây có thể là việc làm giúp người khác, cầu chúc, đi bộ, nấu một bữa cho người thân; điều quan trọng là có một chỗ khác để tâm đặt vào.
Bước hai, nhìn cái giá của ý nghĩ ấy. Nếu ý nghĩ vẫn quay lại, kinh dạy tự nhắc: “Đây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo” (MN 20:4.2; Pāli: itipime vitakkā akusalā, itipime vitakkā sāvajjā, itipime vitakkā dukkhavipākā). Theo cách đọc của người viết, có thể áp dụng bằng cách ghi lại, sau mỗi lần lái xe qua quán cũ hay nghe lại bài hát chung, hai tiếng sau tâm trạng mình ra sao.
Bước ba, không ức niệm, không tác ý. Nếu vẫn quay lại, kinh dạy: “không ức niệm, không tác ý những tầm ấy” (MN 20:5.1; Pāli: tesaṁ vitakkānaṁ asatiamanasikāro āpajjitabbo). Hình ảnh kinh đưa ra là người có mắt mà không muốn thấy cảnh trước mặt thì “nhắm mắt lại hay ngó qua một bên” (MN 20:5.4–5.5; Pāli: so nimīleyya vā aññena vā apalokeyya). Theo cách đọc của người viết, có thể gọi bước này là không đối thoại với ý nghĩ: nhiều người làm ngược, tranh luận với ý nghĩ, cố thắng nó, rồi mệt.
Bước bốn, tác ý đến hành tướng của các tầm. Nếu vẫn quay lại, kinh dạy: “tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy” (MN 20:6.1; Pāli: vitakkasaṅkhārasaṇṭhānaṁ manasikātabbaṁ). Kinh dùng hình ảnh một người đang đi mau, rồi đi chậm, đứng lại, ngồi, nằm, nhờ vậy người ấy “bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất” (MN 20:6.21; Pāli: oḷārikaṁ oḷārikaṁ iriyāpathaṁ abhinivajjetvā sukhumaṁ sukhumaṁ iriyāpathaṁ kappeyya). Kinh không giảng thêm cách áp dụng cụ thể vào nỗi nhớ. Theo cách đọc của người viết, có thể gọi bước này là làm chậm lại: nhận ra ý nghĩ bắt đầu từ đâu, chạy nhanh vì điều gì, rồi chủ động hạ nhịp, từ ồn ào xuống yên.
Bước năm, gồng sức chế ngự. Nếu bốn bước trên vẫn chưa được, vị Tỷ-kheo “nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm” (MN 20:7.2; Pāli: dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhitabbaṁ abhinippīḷetabbaṁ abhisantāpetabbaṁ). Kinh xếp bước này sau cùng (MN 20:7.1). Theo cách đọc của người viết, với một nỗi buồn tình cảm, gồng ý chí chỉ nên là chỗ cuối và ngắn, vì nó dễ chỉ nén ý nghĩ xuống chứ chưa tháo được sợi dây.
Kết quả được bài kinh nêu là một tâm chủ động, vị ấy “có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn” (MN 20:8.12; Pāli: Yaṁ vitakkaṁ ākaṅkhissati taṁ vitakkaṁ vitakkessati, yaṁ vitakkaṁ nākaṅkhissati na taṁ vitakkaṁ vitakkessati). Đó là mục tiêu: làm chủ được việc tâm nghĩ gì, chứ không phải không còn nhớ gì.
Ví dụ của người viết: anh Nam và con đường cũ
Ví dụ của người viết: anh Nam hai mươi chín tuổi, chia tay chị Hạnh sau ba năm. Đường đi làm của anh ngang qua quán cà phê hai người hay ngồi, và trong xe anh vẫn bật danh sách nhạc chung. Mỗi sáng đi qua quán, anh nghĩ về Hạnh suốt buổi, rồi chiều về lại tự trách mình.
Anh thử đi từng bước. Khi ý nghĩ về Hạnh quay lại, anh đổi đề mục: gọi cho em trai hoặc đi bộ hai mươi phút (đổi sang việc khác). Anh ghi vào sổ nhỏ: những ngày đi qua quán, cả buổi sáng anh làm việc kém hẳn (nhìn cái giá). Khi ý nghĩ vẫn tới giữa lúc họp, anh không cố cãi lại, chỉ quay về việc đang làm, như người nhìn sang chỗ khác (không ức niệm, không tác ý). Anh đổi lối đi làm và tạm tắt danh sách nhạc chung. Sau vài tháng, anh vẫn đôi khi nhớ Hạnh, nhưng không còn nghĩ về chị suốt buổi sáng, và khi nhớ, ngực anh không còn thắt lại như trước.
Đây chỉ là tình huống hình dung. Mỗi người mỗi khác, kinh không hứa số ngày hay số tuần nào.
Quên hay buông: hai việc khác nhau
Trong các bài kinh bài này dẫn, mục tiêu được nêu là tâm không bệnh dù hoàn cảnh đang đau (SN 22.1:3.5) và tâm làm chủ được ý nghĩ của mình (MN 20:8.12), không phải một tâm không còn nhớ gì. Theo cách đọc của người viết, hai việc này khác nhau. Quên là chuyện của trí nhớ, mình không điều khiển được. Buông là chuyện của sự nắm giữ, mình tập được.
Theo cách đọc của người viết, một dấu hiệu nhỏ cho biết dây đã lỏng là khi nhớ đến người cũ mà không còn thắt ngực, không còn muốn kiểm tra họ đang làm gì, không còn soạn sẵn câu nói. Lúc ấy, nhớ chỉ còn là nhớ. Muốn hiểu thêm về chuyện không ngậm nhấm quá khứ, bạn có thể đọc Đừng sống trong quá khứ, đừng mơ tưởng tương lai: Trung Bộ 131 và Buông bỏ, Phật dạy thế nào.
Khi nào cần người khác giúp
Nếu nỗi buồn kéo dài nhiều tuần, khiến bạn mất ngủ, bỏ ăn, không làm việc được, hoặc xuất hiện ý nghĩ làm hại bản thân, đừng ở một mình với nó. Hãy nói ngay với một người thân tin cậy và gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý. Bài Buồn chán kéo dài: Phật dạy gì, và khi nào cần tìm bác sĩ viết riêng cho tình huống này. Đọc kinh và ngồi thiền có thể đi cùng việc chữa trị, nhưng không thay thế được.
Một gợi ý nhỏ cho tối nay
Ngồi yên năm phút. Khi người ấy hiện lên, gọi tên chuyện đang xảy ra bằng một câu ngắn: đang nhớ, hoặc đang giận. Rồi đưa sự chú ý về hơi thở. Nếu cần, thử bước một: đứng dậy làm một việc nhỏ có ích cho người khác. Trước khi ngủ, đặt điện thoại ra xa và nói thầm: mong người ấy bình an, mong mình bình an. Bài Thiền cho người mới bắt đầu hướng dẫn cách ngồi với hơi thở mười phút mỗi ngày. Đây là gợi ý của người viết, không phải lời kinh.
Sợi dây buộc người ta không phải là ký ức, mà là bàn tay vẫn đang nắm. Tháo từng ngón một cũng là buông.
Hỏi nhanh
Phật có dạy cách quên người yêu cũ không?
Trong các bài kinh bài này dẫn không thấy lời dạy xóa ký ức về một người. Kinh nói về sợi dây thích-ghét (Dhp 210–211), về tâm không bệnh dù hoàn cảnh đau (SN 22.1) và năm bước đối xử với ý nghĩ cứ quay lại (MN 20). Theo cách đọc của người viết, việc tập được là buông sự nắm giữ.
Cố ép mình quên có phải cách kinh dạy không?
Kinh An Trú Tầm (MN 20) xếp việc gồng sức chế ngự tâm ở bước thứ năm và sau cùng (MN 20:7.1–7.2), sau bốn bước nhẹ hơn: đổi sang đề mục thiện, nhìn cái giá của ý nghĩ, không ức niệm không tác ý, và tác ý đến hành tướng của nó. Bài kinh dành cho Tỷ-kheo; việc áp dụng vào nỗi nhớ người cũ là cách đọc của người viết.
Còn nhớ người cũ có nghĩa là chưa buông không?
Các bài kinh dẫn trong bài này không nói nhớ là chưa buông. Theo cách đọc của người viết, dấu hiệu dây đã lỏng là nhớ mà không còn thắt ngực, không còn muốn theo dõi hay trả đũa. Kinh nêu mục tiêu là tâm làm chủ được ý nghĩ (MN 20:8.12), không phải không còn nhớ.
Bao lâu thì hết đau sau chia tay?
Trong các bài kinh bài này dẫn không thấy kinh nào nêu số ngày hay số tuần. Mỗi người mỗi khác. Nếu sau nhiều tuần bạn vẫn mất ngủ, bỏ ăn hoặc có ý nghĩ làm hại bản thân, hãy gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý và nói với người thân.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Kinh Pháp Cú, Phẩm Hỷ Ái, kệ 210–211, bản HT. Thích Minh Châu, Dhp 209–220 trên SuttaCentral; Pāli: Dhp 209–220, bản Mahāsaṅgīti.
- Tương Ưng Bộ 22.1, Kinh Nakulapitā, bản HT. Thích Minh Châu, SN 22.1 trên SuttaCentral; Pāli: SN 22.1, bản Mahāsaṅgīti.
- Trung Bộ 20, Kinh An Trú Tầm, bản HT. Thích Minh Châu, MN 20 trên SuttaCentral; Pāli: MN 20, bản Mahāsaṅgīti.
- Trung Bộ 87, Kinh Ái Sanh, bản HT. Thích Minh Châu, MN 87 trên SuttaCentral (chỉ nhắc, không trích).
- Các câu trong ngoặc kép và khung trích là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu (giữ cách viết của bản dịch, ví dụ bịnh); câu Pāli kèm theo chép từ bản Mahāsaṅgīti trên SuttaCentral, số đoạn theo cách đánh số của SuttaCentral. Phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi cách đọc của người viết là suy luận, chỗ ghi ví dụ của người viết là tình huống hình dung, không phải chuyện trong kinh. Kinh Nakulapitā nói về năm uẩn của chính mình và Kinh An Trú Tầm nói với Tỷ-kheo; việc áp dụng cho nỗi nhớ người cũ là của người viết. Nghĩa các chữ Pāli là nghĩa thông thường trong tiếng Pāli.