Lần đầu đi chùa Nam tông: lạy thế nào, mặc gì, dâng cơm lúc nào
Lần đầu bước vào một ngôi chùa Nam tông, nhiều người lúng túng: lạy mấy lạy, có cần mặc áo tràng, mang đồ ăn lúc nào, gọi các sư là gì. Thật ra chỉ cần nhớ vài điều, và biết điều nào là nếp chùa, điều nào là giới luật của chư Tăng.
Mặc gì khi đến chùa
Theo truyền thống, Phật tử mặc áo có tay, quần hoặc váy dài, màu nhã nhặn. Nhiều chùa Nam tông ở Việt Nam có nếp mặc áo trắng vào ngày lễ, nhưng ngày thường thì không bắt buộc. Trước khi vào chánh điện, bạn bỏ mũ nón và cởi giày dép.
Việc bỏ mũ có một gốc nhỏ trong Luật. Trong các điều học về oai nghi, Tỷ-kheo tự nhắc: “Ta sẽ không giảng pháp cho người trùm đầu khi người ấy không bệnh” (Luật tạng, Chúng học 67). Đó là luật của chư Tăng, không phải luật đặt ra cho người tại gia. Nhưng hiểu được nó, bạn sẽ thấy vì sao bỏ mũ khi nghe pháp là điều tự nhiên.
Lạy và ngồi
Trong kinh, người đến gặp Đức Phật thường “đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên” (Trung Bộ 70, đoạn 5.1). Cách lạy cụ thể ngày nay là truyền thống: quỳ, chắp tay, cúi xuống cho trán, hai bàn tay và hai đầu gối chạm đất, lạy ba lạy để kính Phật, Pháp, Tăng. Bạn lạy khi đến trước tượng Phật, và khi đến chào chư Tăng.
Khi ngồi, bạn ngồi xếp chân sang một bên hoặc quỳ, tránh duỗi chân về phía tượng Phật hay chư Tăng; đây cũng là nếp chùa. Còn việc ngồi thấp hơn vị đang giảng thì có trong Luật: Tỷ-kheo tự nhắc “Ta sẽ không ngồi chỗ thấp mà giảng pháp cho người ngồi chỗ cao, khi người ấy không bệnh” (Chúng học 69).
Dâng vật thực trước giờ ngọ
Đây là điều quan trọng nhất cần nhớ, vì nó là giới của chư Tăng chứ không chỉ là phong tục:
“Vị tỳ khưu nào nhai hoặc ăn vật thực cứng hoặc vật thực mềm vào lúc sái thời thì phạm tội pācittiya.”
Luật tạng, Ưng đối trị 37, đoạn 1.22.1
Luật giải thích: phi thời là “từ khi quá giữa trưa cho đến lúc rạng đông” (đoạn 2.1.6). Vì vậy các chùa thường thọ trai vào khoảng 10 giờ 30 đến 11 giờ. Bạn nên mang đồ ăn đến trước giờ ấy. Sau giờ ngọ, Luật cho phép một số thứ khi có lý do, như các loại nước uống và thuốc (đoạn 2.3.2), nên buổi chiều bạn có thể dâng nước trái cây lọc hay thuốc men. Những thứ khác dùng được buổi chiều hay không, mỗi chùa có cách giữ riêng; khi chưa rõ, bạn hỏi trước.
Vật thực cũng cần được trao tận tay. Luật quy định Tỷ-kheo không đưa vào miệng vật thực “chưa được trao”, trừ nước và tăm xỉa răng (Ưng đối trị 40, đoạn 2.5.1); được trao nghĩa là người dâng đứng trong tầm tay, đưa bằng tay hay bằng vật cầm trên tay, và vị Tỷ-kheo nhận bằng tay hay bằng vật cầm trên tay (đoạn 3.1.8). Vì thế bạn nâng mâm bằng hai tay dâng lên, và vị sư chạm tay hay đặt tay lên mâm để nhận. Ở nhiều chùa, Phật tử nữ đặt vật dâng lên tấm vải vị sư trải ra, thay vì trao thẳng vào tay; đó là nếp giữ gìn của truyền thống, xuất phát từ việc Luật rất nghiêm về sự đụng chạm giữa Tỷ-kheo và người nữ (Tăng tàn 2).
Về tiền bạc: Luật không cho Tỷ-kheo nhận vàng bạc, tiền bạc cho mình (Ưng xả đối trị 18). Khi muốn hỗ trợ chùa bằng tịnh tài, bạn gửi qua cư sĩ lo việc chùa. Bài Cúng dường chư Tăng thế nào nói rõ hơn.
Xưng hô và chào hỏi
Ở các chùa Nam tông Việt Nam, Phật tử thường gọi các vị Tỷ-kheo là “Sư”, “Ngài” hoặc “Bhante”, và xưng “con”. Chữ bhante là tiếng Pāli, có nghĩa “bạch Ngài”; trong kinh, chư Tỷ-kheo cũng thưa với Đức Phật bằng chữ này (Trung Bộ 70, đoạn 2.5). Các vị Sa-di nhỏ tuổi thường được gọi là “chú”. Khi chào, bạn chắp tay thay vì bắt tay.
Đức Phật dạy người tại gia phụng sự các bậc xuất gia bằng “thân hành từ ái, khẩu hành từ ái, ý hành từ ái, không đóng cửa từ chối, và dâng cúng những vật dụng các vị cần” (Trường Bộ 31, đoạn 33.2). Lễ nghi chỉ là hình thức của tấm lòng ấy.
Nếu lỡ làm sai
Thử hình dung bạn mang một hộp xôi đến chùa lúc một giờ chiều, không biết chuyện giờ ngọ. Vị sư sẽ nhận và nhờ người cất lại cho ngày mai, hoặc chia cho người trong chùa. Không ai trách bạn. Các chùa luôn hoan hỷ với người mới; khi chưa rõ, bạn cứ hỏi một cư sĩ đang làm công quả, họ sẽ chỉ dẫn tận tình.
Một gợi ý nhỏ
Trước lần đi chùa tới, bạn thử học thuộc câu kính lễ Namo tassa và lời Tam quy, năm giới tiếng Pāli. Khi cả chùa cùng tụng, bạn sẽ không còn thấy mình là người ngoài.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Ưng đối trị 37 (Vikālabhojanasikkhāpada), Bu Pc 37 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Ưng đối trị 40 (Dantaponasikkhāpada), Bu Pc 40 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Tăng tàn 2, Bu Ss 2 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Ưng xả đối trị 18 (Rūpiyasikkhāpada), Bu NP 18 trên SuttaCentral.
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Chúng học 67 và 69, Bu Sk 67 trên SuttaCentral, Bu Sk 69 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 70, Kinh Kīṭāgiri, MN 70 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt (Siṅgālaka Sutta), DN 31 trên SuttaCentral.
- Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.