Thiền và chánh niệm

Niệm Phật theo Phật giáo Nguyên Thủy: niệm gì, niệm thế nào, khác niệm A Di Đà ra sao

Nói “niệm Phật”, nhiều người nghĩ ngay đến niệm danh hiệu A Di Đà. Kinh Nikāya, các bộ kinh Pāli mà Nam truyền giữ, dạy một pháp cùng tên mà cách làm khác: nhớ nghĩ chín ân đức của Đức Phật (Buddhānussati). Bài này đọc từng đoạn kinh, rồi đối chiếu với cách niệm của Bắc tông trong tinh thần tôn trọng.

Tóm lại: Trong kinh Nikāya, niệm Phật là Buddhānussati: nhớ nghĩ đến Đức Phật qua chín ân đức, mở đầu bằng câu “Itipi so bhagavā…” (AN 6.10). Kinh nói pháp này đưa đến Niết-bàn (AN 1.296) và làm tâm không bị tham, sân, si chi phối, sinh hân hoan, khinh an, định tĩnh (AN 6.10). Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy tên Đức Phật A Di Đà; niệm danh hiệu A Di Đà là pháp môn Tịnh độ của Bắc tông, theo cách trình bày phổ biến, đáng được tôn trọng như một truyền thống riêng.

“Niệm Phật” trong kinh Nikāya là niệm gì?

Ở Việt Nam, hai chữ “niệm Phật” thường được hiểu là niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Đó là một pháp môn lâu đời và được rất nhiều người trân trọng. Nhưng khi bạn mở kinh Nikāya, tức các bộ kinh Pāli mà Phật giáo Nam truyền giữ, “niệm Phật” có một nghĩa khác và cũng rất cụ thể. Để khỏi lẫn, bài này dùng chữ Pāli của kinh: Buddhānussati, ghép từ Buddha (Phật) và anussati. Chữ anussati mà bản Minh Châu dịch là “tùy niệm” theo cách hiểu thông thường là sự nhớ nghĩ lặp đi lặp lại, nhớ lại một điều có thật. Tức là trong kinh Nikāya, niệm Phật là nhớ nghĩ đến Đức Phật qua các ân đức của Ngài.

Tầm quan trọng của pháp này được kinh nói thẳng, trong một bài ngắn thuộc chương Một Pháp của Tăng Chi Bộ:

Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật.

Tăng Chi Bộ 1.296 (AN 1.296:1.1–1.3; Pāli: “Ekadhammo, bhikkhave, bhāvito bahulīkato ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Katamo ekadhammo? Buddhānussati.)

Cần đọc cho đúng. Kinh nói pháp ấy “được tu tập, được làm cho sung mãn”, tức là phải làm đều và làm nhiều, không phải đọc một lần. Trong đoạn này người viết không thấy kinh hứa hẹn điều gì ngoài hướng đi: nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, Niết-bàn, tức chính hướng đi của con đường Phật dạy. Niệm Phật theo kinh Nikāya là một phần của con đường ấy, không phải một lối tắt thay thế.

Niệm cái gì: chín ân đức trong câu “Itipi so bhagavā…”

Muốn biết niệm gì, hãy xem chính lời Đức Phật. Trong Tăng Chi Bộ 6.10, ông Mahānāma hỏi vị Thánh đệ tử đã đi đến quả, đã liễu giải giáo pháp, thường sống với nếp sống nào. Đức Phật dạy sáu điều, mục thứ nhất là:

Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”

Tăng Chi Bộ 6.10 (Kinh Ma-ha-nam) (AN 6.10:2.2–2.3; Pāli: Idha, mahānāma, ariyasāvako tathāgataṁ anussarati: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.)

Câu Pāli “Itipi so bhagavā…” là câu bạn thường nghe được tụng ở các chùa Nam tông. Cụm đầu itipi so bhagavā theo cách hiểu thông thường là “vì những lẽ này, Ngài là bậc Thế Tôn”, rồi liệt kê chín ân đức. Theo cách hiểu thông thường, ý nghĩa của từng ân đức như sau:

  1. Arahaṁ (A-la-hán): bậc xứng đáng được cúng dường, đã diệt hết phiền não.
  2. Sammāsambuddho (Chánh Đẳng Giác): bậc tự mình giác ngộ chân lý một cách đầy đủ.
  3. Vijjācaraṇasampanno (Minh Hạnh Túc): đầy đủ trí tuệ và đức hạnh.
  4. Sugato (Thiện Thệ): bậc đã đi đến nơi tốt lành, nói và làm đều khéo.
  5. Lokavidū (Thế Gian Giải): bậc hiểu biết thế gian.
  6. Anuttaro purisadammasārathi (Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu): bậc tối thượng, người dẫn dắt những người đáng được dẫn dắt.
  7. Satthā devamanussānaṁ (Thiên Nhân Sư): bậc thầy của chư thiên và loài người.
  8. Buddho (Phật): bậc đã tỉnh thức, giác ngộ.
  9. Bhagavā (Thế Tôn): bậc đáng tôn kính.

Bạn thấy điều gì đáng chú ý? Mọi ân đức trên đều nói về phẩm chất của một con người đã giác ngộ: trí tuệ, đức hạnh, sự hiểu biết, khả năng dạy người. Đây là chỗ khác nhau căn bản với niệm danh hiệu: đối tượng được nhớ nghĩ không phải một cái tên, mà là những phẩm chất cụ thể để người niệm nhìn lại mình. Bài Namo tassa giải thích câu kính lễ mở đầu thường đi trước các bài tụng; còn bài Tụng kinh mỗi ngày đưa phần ân đức Phật, Pháp, Tăng vào một thời khóa ngắn.

Niệm xong, điều gì xảy ra trong tâm?

Kinh mô tả rất rõ một chuỗi thay đổi, từng bước một:

Khi nào, này Mahànàma, Thánh đệ tử niệm Như Lai, trong khi ấy, tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối; trong khi ấy, tâm vị ấy được chánh trực nhờ dựa vào Như Lai. Và này Mahànàma, một Thánh đệ tử, với tâm chánh trực, được nghĩa tín thọ, được pháp tín thọ, được hân hoan liên hệ đến pháp. Người có hân hoan, nên hỷ sanh. Người có hỷ, nên thân được khinh an. Với thân khinh an, vị ấy cảm giác lạc thọ. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh.

Tăng Chi Bộ 6.10 (Kinh Ma-ha-nam) (AN 6.10:2.4–2.7; Pāli: Yasmiṁ, mahānāma, samaye ariyasāvako tathāgataṁ anussarati nevassa tasmiṁ samaye rāgapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na dosapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti, na mohapariyuṭṭhitaṁ cittaṁ hoti; ujugatamevassa tasmiṁ samaye cittaṁ hoti tathāgataṁ ārabbha. Ujugatacitto kho pana, mahānāma, ariyasāvako labhati atthavedaṁ, labhati dhammavedaṁ, labhati dhammūpasaṁhitaṁ pāmojjaṁ. Pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vediyati, sukhino cittaṁ samādhiyati.)

Theo cách đọc của người viết, đây là một tiến trình tâm lý có thể kiểm chứng bằng kinh nghiệm: khi bạn nhớ nghĩ đến những phẩm chất cao đẹp một cách rõ ràng, tâm tạm rời tham, sân, si; tâm ngay thẳng hơn; rồi sinh hân hoan, hỷ, thân nhẹ, lạc, và tâm lắng xuống. Chuỗi hân hoan, hỷ, khinh an, lạc, định ấy là chính điều bản Minh Châu ghi. Trong đoạn kinh này người viết không thấy nói điều gì khác ngoài chuỗi ấy, nên bài cũng chỉ nói đến chừng ấy.

Cuối đoạn, kinh gọi tên pháp đang tu bằng chính chữ ta đang bàn:

“Nhập được pháp lưu, vị ấy tu tập niệm Phật” (AN 6.10:2.9; Pāli: ‘ariyasāvako visamagatāya pajāya samappatto viharati, sabyāpajjāya pajāya abyāpajjo viharati, dhammasotaṁ samāpanno buddhānussatiṁ bhāveti’.). Đây là chỗ Pāli ghi buddhānussatiṁ bhāveti, nghĩa đen là “tu tập niệm Phật”.

Dành cho ai, niệm lúc nào?

Tăng Chi Bộ 11.11 cho thấy chỗ đứng của pháp này trong đời sống. Ông Mahānāma hỏi nên an trú với nếp sống nào, và Đức Phật trả lời bằng hai tầng. Tầng thứ nhất là năm pháp nền tảng (tín, tấn, niệm, định, tuệ); tầng thứ hai là sáu pháp tu thêm, mục đầu của sáu pháp ấy là niệm Như Lai.

Hãy nhập cuộc, này Mahànàma với lòng tin, không phải với không lòng tin. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ”.
Sau khi an trú trong năm pháp này, này Mahànàma, hãy tu tập thêm sáu pháp nữa.

Tăng Chi Bộ 11.11 (Kinh Ma-ha-nam, bài 1) (AN 11.11:3.4–3.9; Pāli: Saddho kho, mahānāma, ārādhako hoti, no assaddho; āraddhavīriyo ārādhako hoti, no kusīto; upaṭṭhitassati ārādhako hoti, no muṭṭhassati; samāhito ārādhako hoti, no asamāhito; paññavā ārādhako hoti, no duppañño. Imesu kho tvaṁ, mahānāma, pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cha dhamme uttari bhāveyyāsi.)

Điều này nhắc một điều đáng nghe với người hay niệm Phật mà bỏ qua giới hạnh: niệm Phật trong kinh được đặt trên nền của lòng tin, tinh tấn, chánh niệm, định và trí tuệ, không đứng một mình.

Còn lúc nào nên niệm? Kinh Đầu Lá Cờ trong Tương Ưng Sakka cho một ví dụ cụ thể, khi tâm sợ hãi. Đức Phật dạy các Tỷ-kheo ở nơi vắng như rừng, gốc cây, nhà trống:

khi các Ông đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: “Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”.
Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.

Tương Ưng Bộ 11.3 (Kinh Đầu Lá Cờ) (SN 11.3:9.2–9.4; Pāli: ‘sace tumhākaṁ, bhikkhave, araññagatānaṁ vā rukkhamūlagatānaṁ vā suññāgāragatānaṁ vā uppajjeyya bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, mameva tasmiṁ samaye anussareyyātha: “itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā”ti. Mamañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.)

Hãy đọc đúng chữ kinh: kinh nói “niệm nhớ đến Ta” và kết quả là sợ hãi được tiêu diệt. Trong đoạn kinh này người viết không thấy nói Đức Phật sẽ hiện đến cứu. Theo cách đọc của người viết, cơ chế được nêu ở Tăng Chi Bộ 6.10 là lời giải: khi tâm đang nhớ nghĩ phẩm chất của bậc không sợ hãi, tâm không bị tham, sân, si chi phối, nên sợ hãi tạm lắng. Đoạn kinh này vì vậy chỉ cho biết cách một người có thể tự giúp mình lúc tâm hoảng; nó không phải lời hứa về sự che chở từ bên ngoài.

Niệm Phật không đứng một mình: sáu niệm

Tăng Chi Bộ 6.25 liệt kê sáu chỗ để tâm nương vào:

“Này các Tỷ-kheo, có sáu Tùy niệm xứ này.” (AN 6.25:1.1; Pāli: “Chayimāni, bhikkhave, anussatiṭṭhānāni.) Sáu chỗ ấy lần lượt là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí (sự cho đi) và niệm Thiên. Niệm Phật đứng đầu, nhưng là một trong sáu. Bài kinh Ma-ha-nam (AN 6.10) có trên Hoan Hỉ cho cả sáu mục, mỗi mục đều theo cùng chuỗi hân hoan, hỷ, khinh an, lạc, định.

Vì vậy, nếu bạn muốn niệm Phật theo Nam truyền, một cách thực hành đầy đủ gồm nhớ ân đức Phật, nhớ Chánh pháp thiết thực (svākkhāto bhagavatā dhammo), nhớ Tăng đang đi đúng đường, nhớ giới mình giữ, nhớ việc cho đi của mình.

So với niệm A Di Đà: giống ở đâu, khác ở đâu

Phần này cần nói thật rõ và cũng thật tôn trọng. Niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà là cốt lõi của pháp môn Tịnh độ, một truyền thống Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) được rất nhiều người Việt và người ở nhiều nước Đông Á thực hành, với đời sống đạo đức và lòng tin chân thành. Người viết không bình phẩm đúng sai của truyền thống ấy. Bài này chỉ trả lời câu hỏi: kinh Nikāya nói gì, và đối chiếu với cách hiểu phổ biến ở truyền thống kia.

  • Đối tượng được niệm. Trong Tăng Chi Bộ 6.10, 11.11, 1.296 và Tương Ưng Bộ 11.3, đối tượng là Đức Phật Gotama, vị đã thuyết các bài kinh ấy, và được nhớ nghĩ qua chín ân đức. Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy tên Đức Phật A Di Đà, cõi Cực Lạc hay việc niệm danh hiệu để được vãng sanh. Theo cách trình bày phổ biến, các kinh nói về Đức Phật A Di Đà thuộc kinh điển Đại thừa; bài này không dẫn nguyên văn các kinh ấy.
  • Cách niệm. Trong kinh Nikāya bài này dẫn, niệm Phật là nhớ nghĩ và quán xét từng ân đức. Niệm danh hiệu lặp lại một câu là cách thực hành của Tịnh độ, theo cách trình bày phổ biến.
  • Mục tiêu được nêu. Kinh Nikāya nêu mục tiêu là tâm chánh trực, hân hoan, định tĩnh, và hướng về Niết-bàn (AN 6.10, AN 1.296). Theo cách trình bày phổ biến, Tịnh độ nêu mục tiêu là được vãng sanh về cõi của Đức Phật A Di Đà để tiếp tục tu học ở đó.
  • Điểm chung. Cả hai đều dùng việc nhớ Phật để tâm an, tránh xa việc ác và nuôi lòng tin. Theo cách trình bày phổ biến, cả hai đều gắn việc niệm với đời sống đạo đức. Một người theo Tịnh độ và một người theo Nam truyền có thể ngồi cạnh nhau ở chùa, mỗi người niệm theo cách của mình, mà không cần tranh luận ai đúng.

Hai truyền thống có kinh điển khác nhau, nên có cách thực hành khác nhau. Điều người viết giữ là phân biệt rõ nguồn: nếu bạn đọc kinh Nikāya, “niệm Phật” là Buddhānussati như trên. Nếu bạn theo Tịnh độ, đó là niệm danh hiệu, và nguồn của pháp ấy nằm trong truyền thống của bạn. Bài Nam tông và Bắc tông nói thêm về sự khác nhau chung giữa hai truyền thống.

Thực hành thế nào cho một người bận rộn

Phần dưới đây là gợi ý của người viết, dựa vào kinh đã dẫn, không phải nghi thức bắt buộc:

  1. Chọn lúc yên. Năm đến mười phút sáng sớm hoặc trước khi ngủ là đủ. Bài Ngồi thiền bao lâu mỗi ngày là đủ bàn về mức vừa sức.
  2. Ngồi thoải mái, lưng thẳng. Đọc thầm một lần câu Itipi so bhagavā… hoặc bản Việt “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác…”.
  3. Chọn một ân đức và nghĩ về nghĩa của nó. Ví dụ ân đức “Thiên Nhân Sư”: bậc thầy dạy người ta cách thoát khổ. Hãy nghĩ một ví dụ trong đời bạn, nơi lời dạy của Đức Phật đã giúp bạn nhẹ lòng.
  4. Khi tâm trôi đi, nhẹ nhàng kéo về ân đức ấy. Không cần ép.
  5. Để ý cảm giác: có chút hân hoan, nhẹ nhõm nào không? Kinh nêu chuỗi này như dấu hiệu của sự đúng hướng.

Còn câu hỏi “đọc to hay thầm, đếm bao nhiêu lần, dùng chuỗi hạt không”: trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh nêu số lần hay dụng cụ. Chuỗi hạt và số lần là nếp thực hành của từng nơi, bạn dùng nếu nó giúp bạn tập trung.

Một ví dụ đời thường

Ví dụ minh họa, nhân vật hư cấu, không phải chuyện có thật và không phải lời kinh. Chị Thu làm hành chính, hay hồi hộp trước các cuộc họp đánh giá. Chị đọc Tăng Chi Bộ 6.10 và thử một cách đơn giản. Trước giờ họp, chị ngồi ở góc cầu thang hai phút, nhớ ân đức “Sugato”, bậc nói và làm đều khéo, rồi tự hỏi mình hôm nay có thể nói khéo điều gì. Chị không cầu cuộc họp trôi chảy; chị chỉ nhớ một phẩm chất để nhắm tới. Sau vài tuần chị thấy mình bớt vội vàng, lời nói chậm rãi hơn. Chị hiểu chuỗi “tâm chánh trực, hân hoan, định tĩnh” trong kinh không phải điều xa vời, nó bắt đầu từ hai phút nhớ nghĩ nghiêm túc.

Một gợi ý nhỏ

Tuần này, mỗi tối bạn chọn một trong chín ân đức, viết ngắn một dòng: ân đức này nhắc mình điều gì cho ngày mai? Chín tối là hết một vòng. Làm xong, bạn sẽ thấy câu Itipi so bhagavā… không còn là chuỗi âm khó nhớ, mà là chín điều bạn đã tự soi vào đời mình.

Hỏi nhanh

Niệm Phật theo Phật giáo Nguyên Thủy là gì?

Là Buddhānussati, nhớ nghĩ đến Đức Phật qua các ân đức của Ngài. Tăng Chi Bộ 1.296 gọi đó là một pháp đưa đến Niết-bàn: “Chính là niệm Phật.” (AN 1.296:1.3; Pāli: Buddhānussati.) Cách niệm là nhớ và quán xét chín ân đức, không phải lặp lại một danh hiệu.

Niệm Phật theo kinh Nikāya khác niệm A Di Đà thế nào?

Trong các kinh Nikāya bài này dẫn, người viết không thấy tên Đức Phật A Di Đà hay cõi Cực Lạc; đối tượng niệm là Đức Phật Gotama qua chín ân đức. Niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà là pháp môn Tịnh độ của truyền thống Bắc tông, theo cách trình bày phổ biến. Hai truyền thống có kinh điển khác nhau, bài không bình phẩm đúng sai.

Câu “Itipi so bhagavā” nghĩa là gì?

Đây là câu mở đầu chín ân đức của Đức Phật. Bản Minh Châu dịch: “Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn” (AN 6.10:2.3; Pāli: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.).

Niệm Phật có cần đếm số lần hay dùng chuỗi hạt không?

Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh nêu số lần niệm hay chuỗi hạt. Kinh nhấn mạnh việc nhớ nghĩ ân đức một cách rõ ràng. Chuỗi hạt và số lần là nếp thực hành tùy nơi.

Khi sợ hãi, có thể niệm Phật không?

Tương Ưng Bộ 11.3 dạy người ở nơi vắng mà sợ hãi hãy niệm nhớ đến Đức Phật. Kinh nói kết quả là: “Này các Tỷ-kheo, khi các Ông niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.” (SN 11.3:9.4; Pāli: Mamañhi vo, bhikkhave, anussarataṁ yaṁ bhavissati bhayaṁ vā chambhitattaṁ vā lomahaṁso vā, so pahīyissati.) Theo cách đọc của người viết, đó là tác dụng của tâm nhớ nghĩ phẩm chất của bậc không sợ hãi.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 1.296, bản HT. Thích Minh Châu, AN 1.296–305 trên SuttaCentral; Pāli: AN 1.296–305.
  2. Tăng Chi Bộ 6.10, bản HT. Thích Minh Châu, AN 6.10 trên SuttaCentral; Tăng Chi Bộ 6.25, AN 6.25 trên SuttaCentral; Tăng Chi Bộ 11.11, AN 11.11 trên SuttaCentral.
  3. Tương Ưng Bộ 11.3, bản HT. Thích Minh Châu, SN 11.3 trên SuttaCentral; Pāli: SN 11.3.
  4. Các câu trong khung trích và trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu; câu Pāli chép theo SuttaCentral, bản Mahāsaṅgīti. Phần giải nghĩa chữ Pāli theo cách hiểu thông thường và phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” hay “gợi ý của người viết” là suy luận. Phần nói về niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà và pháp môn Tịnh độ là theo cách trình bày phổ biến của truyền thống Bắc tông, không dẫn nguyên văn và không đối chiếu kinh điển Đại thừa trong bài này. Câu “trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy…” chỉ nói về những kinh được trích trong bài, không khẳng định cho cả Tam tạng.

Đọc nguyên văn bài kinh

Đọc thêm