Rằm tháng 7, Vu Lan và cúng cô hồn: kinh Nikāya nói gì, đâu là phong tục
Đến rằm tháng Bảy âm lịch, nhà nào cũng nghe ba cái tên cùng lúc: lễ Vu Lan, cúng cô hồn, xá tội vong nhân. Người theo Phật giáo Nam truyền hay hỏi: “Bên mình có ngày lễ này không? Kinh có dạy cúng cô hồn không?” Bài này đi từng lớp: phần nào là phong tục, phần nào là lời kinh Nikāya, và việc đáng làm trong ngày rằm ấy là gì.
Ba lớp chồng lên nhau trong rằm tháng Bảy
Ở Việt Nam, rằm tháng Bảy là chỗ ba lớp gặp nhau. Lớp thứ nhất là lễ Vu Lan của nhà chùa Bắc tông: ngày báo hiếu, cài hoa hồng lên áo, nghe chuyện ngài Mục-kiền-liên cứu mẹ. Câu chuyện ấy nằm trong kinh Vu Lan Bồn, một bản kinh của Hán tạng; các bài kinh Nikāya bài này dẫn không có chuyện đó. Lớp thứ hai là phong tục dân gian: tháng Bảy được tin là tháng “cửa ngục mở”, nhà nào cũng cúng cô hồn, đặt cháo, gạo muối, bánh kẹo ngoài sân. Lớp thứ ba là ngày xá tội vong nhân, cũng là phong tục, không có trong các bài kinh Nikāya bài này dẫn.
Nói như vậy không phải để phân đúng sai. Mỗi lớp có nguồn gốc riêng và đều chứa một tấm lòng đáng quý: nhớ ơn cha mẹ, thương những người không ai cúng giỗ. Bài này chỉ hỏi một câu hẹp hơn: kinh Nikāya, tức các bộ kinh Pāli mà Phật giáo Nam truyền giữ, nói gì về những điều ấy?
Nam truyền có lễ Vu Lan không?
Theo những gì bài này tìm được, lễ Vu Lan theo nghi thức Bắc tông không phải là lễ của Nam truyền. Người Khmer Nam Bộ theo Nam truyền có lễ nhớ ông bà riêng của họ, gọi là Sen Đôn-ta (Sene Dolta), không rơi vào rằm tháng Bảy; đây là phong tục của một cộng đồng, bài này không đi sâu.
Nam truyền có một nhịp khác để nhớ ơn và làm lành: các ngày Uposatha, nghĩa là ngày trai giới, thường vào dịp trăng tròn và trăng non. Kinh Tăng Chi Bộ 8.41 dạy vị Thánh đệ tử trong ngày ấy suy nghĩ rằng các bậc A-la-hán trọn đời giữ giới, nên hôm nay, đêm này và ngày nay, mình cũng giữ theo. Điều đầu tiên trong tám điều ấy nói về lòng từ: “có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình” (AN 8.41). Theo lịch phổ biến ở các chùa Nam tông tại Việt Nam, mùa an cư ba tháng của chư Tăng bắt đầu sau rằm tháng Sáu và kết thúc quanh rằm tháng Chín, nên rằm tháng Bảy thường rơi giữa mùa an cư; đây là chuyện lịch pháp, mỗi chùa có thể tính chênh một chút. Bài Giữ bát quan trai giới hướng dẫn cụ thể ngày trai giới.
Điều kinh nói về người đã khuất: Kinh Jāṇussoṇi
Câu hỏi của bà-la-môn Jāṇussoṇi gần như là câu hỏi của mọi nhà vào tháng Bảy. Ông thưa với Đức Phật:
—Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
Tăng Chi Bộ 10.177
Đức Phật không đáp “có” hay “không” một cách chung chung. Ngài đáp:
—Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.
Tăng Chi Bộ 10.177
“Tương ưng xứ” là nơi có sự tương ứng, nơi người đã khuất đang sống nhờ phần bố thí hướng đến (đây là cách diễn giải của người viết). Ngài kể lần lượt: người sinh vào địa ngục thì sống bằng món ăn của địa ngục, người sinh vào loài bàng sinh thì sống bằng món ăn của bàng sinh, người sinh làm người hay làm chư thiên thì sống bằng món ăn của loài người hay chư thiên; những nơi ấy đều là “không tương ưng xứ”, phần hồi hướng không tới. Chỉ với cảnh ngạ quỷ (peta, nghĩa đen là người đã ra đi, theo cách hiểu thường gặp) kinh mới nói:
Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy… Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.
Tăng Chi Bộ 10.177
Đoạn này cho hai điều đáng chú ý. Thứ nhất, kinh không nói mọi người chết đều thành ngạ quỷ, cũng không hứa rằng làm lễ này thì người mất được siêu thoát; kinh chỉ nói phần hồi hướng có nơi nhận khi người thân đang ở đúng cảnh ấy. Thứ hai, nếu thân quyến của mình không sinh vào chỗ ấy, kinh nói tiếp rằng các bà con huyết thống khác đã chết mà được sanh vào chỗ ấy thì họ được hưởng bố thí ấy (AN 10.177, đoạn 7). Và Đức Phật nói thêm một câu rất nhẹ nhõm cho người còn sống: dù người thân không ở nơi đó, việc bố thí vẫn không uổng.
Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.
Tăng Chi Bộ 10.177
Nghĩa là việc bố thí nhớ ơn người đã mất không bao giờ hoàn toàn trống: ít nhất người làm đã gieo một việc lành cho chính mình (đây là cách diễn giải của người viết).
“Cô hồn” có trong kinh không?
Chữ “cô hồn” là cách gọi của người Việt, nghĩa là hồn lẻ loi không ai cúng giỗ. Trong các bài kinh bài này dẫn không có từ nào tương ứng; điều gần nhất là cảnh ngạ quỷ ở trên, và kinh luôn nói về thân quyến (ñāti): “bà con huyết thống”, “bạn bè, thân hữu”. Với những người không còn ai thân thích nhớ đến, các bài kinh bài này dẫn không nói gì thêm. Tuy vậy, tinh thần bố thí cho chúng sinh khổ vì lòng thương hợp với câu trong AN 8.41 vừa trích: sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh. Theo cách đọc của người viết, một mâm cúng đặt ra với lòng thương như thế là không trái tinh thần lòng từ trong AN 8.41, còn hình thức bày biện là phong tục của từng nhà.
Kinh Ngoài Bức Tường: những người đứng chờ
Khuddakapāṭha 7 là bài kinh ngắn nói về chính chuyện này. Hình ảnh mở đầu rất lặng lẽ:
Ở bên ngoài bức tường,
Bọn họ đứng chờ đợi,
Giao lộ, ngã ba đường,
Trở về mái nhà xưa,
Đợi chờ bên cạnh cổng.Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
Tiểu Tụng 7, kệ 1–2
Được bày biện sẵn sàng,
Đủ mọi thức uống ăn,
Không một ai nhớ họ.
Rồi kinh chỉ cách làm, và cách làm rất đơn giản. Người có lòng thương nhớ đến thân nhân, dâng “Thức uống ăn thanh tịnh, / Tốt đẹp và đúng thời” (kệ 3), rồi nói: “Món này cho bà con, / Mong bà con an lạc” (kệ 4). Kinh nhấn mạnh hai điều. Một là nhớ lại ơn: “Người ấy đã cho ta, / Đã làm việc vì ta… Hãy bố thí ngạ quỷ, / Nhớ việc xưa chúng làm” (kệ 10). Hai là khóc than không giúp được gì:
Không khóc than, sầu muộn,
Không thương tiếc cách gì,
Giúp ích loài ngạ quỷ,
Quyến thuộc làm như vầy,
Không lợi cho ngạ quỷ.Nhưng khi vật cúng dường,
Tiểu Tụng 7, kệ 11–12
Khéo đặt vào chư Tăng
Ích lợi chúng lâu dài,
Bây giờ, về sau nữa.
Cách đặt vấn đề này nhẹ cho người ở lại: nỗi nhớ được chuyển thành một việc làm cụ thể, và việc làm ấy hướng về chư Tăng, tức là những người đang sống trong giới. Tăng Chi Bộ 5.41 cũng kể “hiến cúng cho hương linh đã chết (peta)” là một trong năm hiến cúng chính đáng của vị Thánh đệ tử có tài sản, bên cạnh hiến cúng cho bà con, cho khách, cho vua và cho chư Thiên (AN 5.41). Còn Tăng Chi Bộ 5.39 kể một lý do cha mẹ mong có con: con sẽ “cúng dường hiến vật cho các hương linh bị mệnh chung” (AN 5.39).
Cúng bằng gì, đốt gì? Phần này kinh không ghi
Trong các bài kinh bài này dẫn, vật cúng được nhắc đến là thức uống ăn thanh tịnh, tốt đẹp, đúng thời (Khp 7, kệ 3) và các vật dụng cúng dường chư Tăng. Bàn thờ lớn, đàn lễ, đốt giấy tiền vàng mã không được các bài kinh ấy nhắc đến; đó là phong tục của từng vùng, kinh không bảo phải làm và cũng không dạy phải bỏ. Kệ 6–7 của Khp 7 chỉ mô tả cách các ngạ quỷ sống: ở nơi ấy không cấy cày, không nuôi súc vật, không buôn bán, không trao đổi tiền vàng, “chỉ sống nhờ bố thí”. Bài này không dùng đoạn đó để phán xét ai.
Một chi tiết nhỏ đáng giữ là chữ “thanh tịnh” (suci). Theo cách đọc của người viết, một mâm cúng nhớ ơn mà phải giết mạng sống chỉ vì buổi lễ ấy thì lệch hẳn với tinh thần AN 8.41. Muốn đơn giản mà vẫn đúng ý kinh, bạn có thể chọn bữa cơm chay hay vật thực quen thuộc trong nhà, không cần cầu kỳ.
Báo hiếu, phần cốt lõi của tháng Bảy
Dù bạn nhớ rằm tháng Bảy qua Vu Lan hay qua cúng giỗ, mạch chính vẫn là ơn cha mẹ. Kinh Cha Mẹ (AN 2.33) nói rất mạnh:
Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha.
Tăng Chi Bộ 2.33
Đức Phật nói thêm: dù cõng cha mẹ trên hai vai suốt trăm năm, dù đặt cha mẹ lên ngôi vua, cũng chưa trả đủ ơn. Cách trả đủ là giúp cha mẹ đứng vững trên con đường lành: cha mẹ chưa có lòng tin thì khuyến khích, hướng dẫn an trú vào lòng tin; cha mẹ xan tham thì hướng dẫn an trú vào bố thí; và Ngài kết: “Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha” (AN 2.33). Kinh Thi-ca-la-việt (DN 31) liệt kê bổn phận của người con, trong đó có “tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Theo cách đọc của người viết, hai kinh ghép lại cho thấy: báo hiếu có hai nửa, nửa lúc cha mẹ còn và nửa sau khi cha mẹ khuất. Rằm tháng Bảy là dịp nhắc cả hai nửa.
Thử hình dung một ngày rằm
Chị Hà làm văn phòng ở thành phố, mẹ ở quê, ba mất đã ba năm. Sáng rằm tháng Bảy, chị gọi điện hỏi thăm mẹ và hẹn cuối tuần về. Trưa, chị nấu một mâm cơm chay đơn giản, chia một phần mang tới chùa gần nhà dâng chư Tăng. Tối, chị ngồi trước bàn thờ, thắp một nén hương, đọc chậm vài câu của Kinh Ngoài Bức Tường, rồi nghĩ đến ba và những người thân đã khuất, rồi đọc câu kinh: “Món này cho bà con, / Mong bà con an lạc.” Chị không làm lễ lớn, nhưng có một việc cho người còn, một việc cho người mất, và một việc cho chính tâm mình.
Một gợi ý nhỏ
Rằm tháng Bảy năm nay, bạn thử chọn ba việc nhỏ, mỗi việc chừng mười phút: gọi cho cha mẹ hay người lớn tuổi trong họ; đặt một phần cơm hay chút tịnh tài dâng chư Tăng ở chùa gần nhà; rồi ngồi yên, đọc Kinh Ngoài Bức Tường và hồi hướng. Muốn hiểu thêm cách hồi hướng, bạn đọc bài Hồi hướng công đức thế nào; muốn hiểu việc cúng người mới mất, đọc bài Cúng 49 ngày có trong Nam truyền không.
Hỏi nhanh
Phật giáo Nam truyền có lễ Vu Lan không?
Lễ Vu Lan theo nghi thức Bắc tông dựa vào kinh Vu Lan Bồn của Hán tạng, không thuộc các bài kinh Nikāya dẫn trong bài này. Nam truyền có ngày trai giới (Uposatha) và các dịp cúng dường, hồi hướng; người Khmer Nam Bộ có lễ nhớ ông bà riêng là Sen Đôn-ta.
Kinh Nikāya có dạy cúng cô hồn không?
Không thấy trong các bài kinh bài này dẫn. Kinh nói về bố thí hồi hướng cho thân quyến đang ở cảnh ngạ quỷ (AN 10.177; Khp 7). Cúng cô hồn là phong tục dân gian; mỗi nhà tự cân nhắc, làm với lòng thương.
Cúng người đã khuất thì họ có nhận được không?
Theo AN 10.177, chỉ khi người ấy ở cảnh ngạ quỷ thì phần hồi hướng đến được; ở các cảnh khác thì không. Nếu thân quyến không sinh vào chỗ ấy, kinh nói các bà con huyết thống khác đã chết được sanh vào đó sẽ được hưởng. Dù vậy, người bố thí “không phải không có hưởng quả”, nên việc làm không uổng.
Có cần đốt vàng mã không?
Các bài kinh Nikāya bài này dẫn không nhắc đốt vàng mã. Kinh nhắc thức uống ăn thanh tịnh, đúng thời và cúng dường chư Tăng (Khp 7). Đốt hay không là phong tục từng nhà.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi, bản HT. Thích Minh Châu, AN 10.177 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 7, Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokuṭṭa Sutta), bản HT. Thích Minh Châu, Khp 7 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 5.41, bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.41 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 5.39, bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.39 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 2.33, Kinh Cha Mẹ, bản HT. Thích Minh Châu, AN 2.32–41 trên SuttaCentral.
- Trường Bộ 31, Kinh Thi-ca-la-việt, bản HT. Thích Minh Châu, DN 31 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 8.41, bản HT. Thích Minh Châu, AN 8.41 trên SuttaCentral.
- Các câu trong ngoặc kép và khung trích là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu. Phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận, chỗ ghi “phong tục” không phải lời kinh. Việc nêu kinh Vu Lan Bồn, lễ Sen Đôn-ta và lịch an cư là theo truyền thống từng nơi, không phải lời kinh Nikāya.