Tiếng Pāli là gì, khác tiếng Phạn ra sao và đọc thế nào
Đi chùa Nam tông, bạn nghe chư Tăng tụng những câu như “Namo tassa”, “Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi”. Đó là tiếng Pāli, ngôn ngữ của Tam tạng kinh điển Nam truyền. Bài này kể tiếng Pāli từ đâu ra, khác tiếng Phạn chỗ nào, Đức Phật dạy gì về ngôn ngữ học kinh, và cách đọc 41 chữ cái sao cho gần đúng.
Chữ “Pāli” nghĩa là gì
Trong các bộ chú giải, chữ pāḷi dùng để chỉ lời kinh gốc, những dòng kinh được kết tập, để phân biệt với lời giải thích của chú giải (aṭṭhakathā). Gặp câu “theo Pāḷi” trong chú giải, nghĩa là “theo bản kinh”. Về sau người ta lấy luôn chữ ấy làm tên ngôn ngữ của kinh: tiếng Pāli.
Chính các bộ chú giải gọi ngôn ngữ này là tiếng Māgadhī, tiếng của xứ Magadha, nơi Đức Phật hoằng pháp nhiều năm. Các nhà ngôn ngữ học ngày nay thì xếp Pāli vào nhóm ngôn ngữ Ấn-Arya trung đại, gần với các thổ ngữ miền đông Ấn Độ thời ấy nhưng không hoàn toàn trùng với một thổ ngữ nào. Hai cách nhìn này không chống nhau: một bên là truyền thống, một bên là nghiên cứu ngôn ngữ.
Đức Phật dạy học lời Ngài bằng ngôn ngữ nào
Luật tạng, Tiểu phẩm (Cūḷavagga) kể chuyện hai anh em tỷ-kheo xuất thân bà-la-môn, giọng nói hay (bản Pāli ghi tên chung là Yameḷakekuṭā). Hai vị thưa với Đức Phật: nay các tỷ-kheo xuất gia từ nhiều dòng họ, nhiều xứ khác nhau, mỗi người đọc lời Phật theo cách nói của mình nên làm sai lệch lời Phật. Xin cho chúng con chuyển lời Phật sang thể thơ (chandaso āropemā), tức lối văn vần của kinh Vệ-đà.
Đức Phật quở trách, rồi dạy chư Tăng: “Này các tỷ-kheo, không được chuyển lời Phật sang thể thơ. Ai làm vậy phạm tội tác ác. Này các tỷ-kheo, Ta cho phép học lời Phật bằng chính ngôn ngữ” (na, bhikkhave, buddhavacanaṁ chandaso āropetabbaṁ… anujānāmi, bhikkhave, sakāya niruttiyā buddhavacanaṁ pariyāpuṇituṁ, Tiểu phẩm 5.33.1).
Chữ “chính ngôn ngữ” có hai cách hiểu. Chú giải Luật (Samantapāsādikā) giải thích là cách nói của chính Đức Phật, tức tiếng Māgadhī. Nhiều dịch giả hiện đại thì hiểu là ngôn ngữ của mỗi người học. Dù hiểu theo cách nào, ý chính vẫn rõ: lời Phật là để hiểu và thực hành, không phải để đóng khung trong một thứ tiếng sang trọng dành cho số ít người.
Pāli và tiếng Phạn khác nhau thế nào
Pāli và tiếng Phạn (Sanskrit) cùng một họ ngôn ngữ, nên rất nhiều chữ gần giống nhau. Tiếng Phạn là ngôn ngữ của kinh Vệ-đà và văn chương bà-la-môn, về sau cũng là ngôn ngữ của nhiều kinh điển Phật giáo Bắc truyền. Pāli là ngôn ngữ của Tam tạng Nam truyền. Nhiều từ Phật học quen thuộc trong tiếng Việt đến với chúng ta qua chữ Hán, nên mang dáng tiếng Phạn nhiều hơn.
| Pāli | Tiếng Phạn | Tiếng Việt |
|---|---|---|
| dhamma | dharma | Pháp |
| kamma | karma | nghiệp |
| nibbāna | nirvāṇa | Niết-bàn |
| sutta | sūtra | kinh |
| bhikkhu | bhikṣu | tỷ-kheo |
| anattā | anātman | vô ngã |
| mettā | maitrī | tâm từ |
| Gotama | Gautama | Cồ-đàm |
Thấy chữ karma hay nirvana trên sách báo nước ngoài, bạn biết đó là dạng tiếng Phạn. Trên Hoan Hỉ, chúng tôi dùng dạng Pāli vì đó là ngôn ngữ của kinh điển được trích. Bài Nam tông và Bắc tông khác nhau thế nào nói thêm về hai truyền thống.
Pāli không có chữ viết riêng
Thời Đức Phật, kinh được truyền bằng miệng. Theo hai bộ biên niên sử Sri Lanka, Tam tạng được chép thành sách ở đó vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên (xem bài Kinh tạng được gìn giữ thế nào). Từ đó đến nay, mỗi nước viết Pāli bằng chữ của mình: chữ Sinhala ở Sri Lanka, chữ Miến ở Myanmar, chữ Khmer và chữ Thái ở Campuchia và Thái Lan, chữ Devanāgarī ở Ấn Độ. Năm 1881, ông T. W. Rhys Davids lập Hội Pali Text Society ở Luân Đôn, in kinh bằng chữ La-tinh có thêm dấu. Cách viết ấy nay dùng khắp thế giới, và cũng là cách Hoan Hỉ viết.
41 chữ cái của tiếng Pāli
Theo các sách ngữ pháp Pāli truyền thống, và như Giáo trình Pāḷi của Ngài A. P. Buddhadatta (Hòa thượng Thích Minh Châu dịch) trình bày, Pāli có 41 chữ cái: 8 nguyên âm và 33 phụ âm. Bảng dưới đây ghi cách đọc gần đúng cho người Việt.
Tám nguyên âm. Ba nguyên âm ngắn a, i, u đọc gọn. Ba nguyên âm dài ā, ī, ū đọc kéo dài gấp đôi, như “a-a”, “i-i”, “u-u”. Hai nguyên âm e, o đọc như “ê”, “ô”. Hai âm này đọc dài khi đứng trước một phụ âm đơn (deva, loka) và đọc ngắn khi đứng trước phụ âm đôi (mettā, sotthi).
Hai mươi lăm phụ âm theo năm nhóm (chữ đậm là chữ Pāli, sau dấu bằng là cách đọc gần đúng):
- Âm họng: k = c · kh = k bật hơi · g = g · gh = g bật hơi · ṅ = ng
- Âm vòm: c = ch · ch = ch bật hơi · j = ch nhẹ, rung cổ, gần “dj” · jh = j bật hơi · ñ = nh
- Âm uốn lưỡi: ṭ = t cong lưỡi · ṭh = th cong lưỡi · ḍ = đ cong lưỡi · ḍh = đ cong lưỡi, bật hơi · ṇ = n cong lưỡi
- Âm răng: t = t · th = th · d = đ · dh = đ bật hơi · n = n
- Âm môi: p = p · ph = p bật hơi · b = b · bh = b bật hơi · m = m
Tám phụ âm còn lại: y đọc như “d” (giống “danh dự” giọng miền Nam); r như “r”; l như “l”; v như “v”, nhưng sau một phụ âm thì đọc như “u” (tvaṁ đọc “tu-văng”); s như “x”; h như “h”; ḷ là “l” cong lưỡi; ṁ (cũng viết ṃ) là âm mũi cuối vần, người Việt đọc gần như “ng”.
Chú ý các chữ có h đi sau như kh, gh, ch, jh, ṭh, ḍh, dh, ph, bh. Đó là một âm bật hơi, không phải hai âm ghép, và không đọc theo tiếng Việt: ph không đọc là “ph” (f) mà là “p” có hơi gió; kh không đọc là “kh” mà là “k” có hơi gió. Riêng th thì gần giống chữ “th” tiếng Việt, nên lấy “th” làm mẫu để tập các âm còn lại.
Mấy quy tắc nhớ nhanh
- Dài thì kéo: ā, ī, ū đọc dài gấp đôi. Bài này viết phần đọc dài bằng hai chữ: aa, ii, uu.
- Phụ âm đôi thì dừng một nhịp: phụ âm đầu đóng vần trước, phụ âm sau mở vần sau. Buddha đọc “Bút-đʰa”, sutta đọc “xút-ta”, mettā đọc “mết-taa”.
- Chữ ʰ nhỏ trong phần đọc dưới đây là dấu bật hơi: bʰ, đʰ, gʰ, kʰ, chʰ.
- ṁ cuối chữ: đọc như “ng”. Buddhaṁ đọc “Bút-đʰăng”.
- s đọc x, c đọc ch, y đọc d.
Đọc thử
| Chữ Pāli | Đọc gần đúng | Nghĩa |
|---|---|---|
| Pāli | Paa-li | bản kinh gốc |
| Dhamma | Đʰăm-ma | Pháp |
| Buddha | Bút-đʰa | Đức Phật |
| Saṅgha | Xăng-gʰa | Tăng |
| kamma | căm-ma | nghiệp |
| nibbāna | níp-baa-na | Niết-bàn |
| mettā | mết-taa | tâm từ |
| Ānanda | Aa-nan-đa | Tôn giả A-nan |
| Sāriputta | Xaa-ri-pút-ta | Tôn giả Xá-lợi-phất |
Câu kính lễ (Tiểu Tụng 1): Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
Đọc: Na-mô tát-xa Bʰa-ga-va-tô A-ra-ha-tô Xăm-maa-xăm-bút-đʰát-xa.
Bài Namo tassa nghĩa là gì giải nghĩa từng chữ.
Quy y Phật (Tiểu Tụng 1): Buddhaṁ saraṇaṁ gacchāmi.
Đọc: Bút-đʰăng xa-ra-năng gác-chʰaa-mi.
Đủ Tam quy và năm giới có ở bài Tam quy, ngũ giới tiếng Pāli.
Ân đức Phật (Tăng Chi Bộ 6.10, đoạn 2.3): Itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
Đọc: I-ti-pi xô bʰa-ga-vaa, a-ra-hăng, xăm-maa-xăm-bút-đʰô, vít-chaa-cha-ra-na-xăm-pan-nô, xu-ga-tô, lô-ca-vi-đuu, a-nút-ta-rô, pu-ri-xa-đăm-ma-xaa-ra-thi, xát-thaa đê-va-ma-nút-xaa-năng, bút-đʰô, bʰa-ga-vaa.
Kinh dạy: lúc vị Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai như vậy, tâm không bị tham, sân, si vây phủ, tâm trở nên ngay thẳng (AN 6.10, đoạn 2.4–2.5).
Lời chúc tâm từ (Kinh Từ Bi, Kinh Tập 1.8, kệ 3): Sabbasattā bhavantu sukhitattā.
Đọc: Xáp-ba-xát-taa bʰa-van-tu xu-kʰi-tát-taa.
Nghĩa: Mong tất cả chúng sinh được an vui.
Đây là cách đọc gần đúng để bạn bắt đầu. Chùa theo truyền thống Thái, Miến, Khmer hay Sri Lanka có giọng hơi khác nhau, và không cách nào là sai. Khi tụng chung, bạn cứ theo nhịp của chùa mình.
Đọc cho cẩn thận để làm gì
Đức Phật dạy có hai điều làm chánh pháp lu mờ và biến mất: chữ và câu bị đặt sai, và nghĩa bị hiểu sai. Khi chữ câu bị đặt sai thì nghĩa cũng khó hiểu đúng. Ngược lại, chữ câu được đặt đúng và nghĩa được hiểu đúng thì chánh pháp tồn tại lâu dài (sunikkhittañca padabyañjanaṁ attho ca sunīto, Tăng Chi Bộ 2.20). Kinh nói về việc giữ đúng chữ và câu của lời dạy, không nói về giọng đọc. Nhưng tập đọc đúng từng chữ Pāli là một cách nhỏ để giữ lời kinh cho chính xác, và để khi nghe chư Tăng tụng, mình nhận ra từng chữ, hiểu được nghĩa.
Một gợi ý nhỏ
Tuần này, bạn thử tập một câu mỗi ngày: hôm đầu câu kính lễ Namo tassa, hôm sau ba câu Tam quy, rồi đến ân đức Phật. Mỗi lần đọc chậm, chú ý chữ dài và chữ bật hơi. Đọc đúng một câu, rồi hiểu nghĩa câu ấy, còn quý hơn đọc thuộc lòng cả bài mà không biết mình đang nói gì.
Hỏi nhanh
Tiếng Pāli là gì?
Là ngôn ngữ của Tam tạng kinh điển Phật giáo Nam truyền. Chữ pāḷi lúc đầu nghĩa là dòng kinh, bản kinh gốc, để phân biệt với chú giải; về sau mới thành tên của ngôn ngữ. Các bộ chú giải gọi ngôn ngữ này là tiếng Māgadhī.
Tiếng Pāli và tiếng Phạn khác nhau thế nào?
Hai ngôn ngữ cùng họ, nhiều chữ gần giống nhau: dhamma và dharma, kamma và karma, nibbāna và nirvāṇa. Pāli là ngôn ngữ của kinh điển Nam truyền; tiếng Phạn (Sanskrit) là ngôn ngữ của kinh Vệ-đà và của nhiều kinh điển Phật giáo Bắc truyền. Đức Phật không cho đem lời Ngài chuyển sang thể thơ Vệ-đà (Luật tạng, Tiểu phẩm 5.33).
Tiếng Pāli có chữ viết riêng không?
Không. Mỗi nước viết Pāli bằng chữ của mình: chữ Sinhala ở Sri Lanka, chữ Miến ở Myanmar, chữ Thái và chữ Khmer, chữ Devanāgarī ở Ấn Độ. Hội Pali Text Society ở Luân Đôn dùng chữ La-tinh có dấu, nay thông dụng khắp thế giới.
Đọc tiếng Pāli thế nào cho đúng?
Nguyên âm có gạch trên (ā, ī, ū) đọc dài gấp đôi; e, o đọc như ê, ô; phụ âm đôi thì đóng âm và dừng một nhịp; các chữ có h như bh, dh, kh, ph đọc bật hơi; ṃ cuối chữ đọc gần như ng; s đọc như x. Mỗi chùa Thái, Miến, Khmer, Sri Lanka có giọng hơi khác, không cách nào là sai.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Luật tạng, Tiểu phẩm (Cūḷavagga) 5.33.1, chuyện hai tỷ-kheo Yameḷakekuṭā, Kd 15 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 2.20 (về chữ, câu và nghĩa của chánh pháp), AN 2.11–20 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 6.10, Kinh Mahānāma (Mahānāma Sutta), AN 6.10 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 1.8, Kinh Từ Bi (Karaṇīyamettā Sutta), Snp 1.8 trên SuttaCentral.
- Tiểu Tụng 1, Tam quy (Saraṇattaya), Khp 1 trên SuttaCentral.
- Chú giải Luật (Samantapāsādikā), giải thích Tiểu phẩm 5.33 về sakāya niruttiyā.
- A. P. Buddhadatta, The New Pali Course; bản Việt: Giáo trình Pāḷi, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch (phần mẫu tự và phát âm).
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.