Nhân vật, nơi chốn

Bà Visākhā: người nữ thí chủ bậc nhất thời Đức Phật

Nhiều bài kinh mở đầu tại “Đông Viên, giảng đường của mẹ Migāra”. Người được gọi là mẹ Migāra ấy là một phụ nữ tại gia, bận rộn việc nhà, và là một trong những người hiểu sâu nhất ý nghĩa của bố thí.

Tóm lại: Bà Visākhā (Tỳ-xá-khư), được kinh gọi là “mẹ của Migāra” (Migāramātā), là nữ cư sĩ bố thí bậc nhất (AN 1.259). Bà dựng tinh xá Đông Viên ở Xá-vệ, xin được suốt đời lo tám thứ cần thiết cho chư Tăng, Ni (Luật tạng, Kd 8), giữ ngày Bố-tát (AN 3.70), và được Đức Phật an ủi bằng một lời dạy sâu sắc khi mất người cháu gái (Ud 8.8).

Vì sao gọi là mẹ của Migāra

Trong kinh, tên bà luôn đi kèm danh xưng “Visākhā, mẹ của Migāra”. Tăng Chi Bộ ghi: trong hàng nữ cư sĩ, người đứng đầu về bố thí là Visākhā, mẹ của Migāra (AN 1.259, đoạn 1.1). Câu chuyện đằng sau danh xưng ấy đến từ chú giải Pháp Cú (tích truyện kệ 53): bà sinh ở thành Bhaddiya, xứ Aṅga, con ông Dhanañjaya, cháu ông Meṇḍaka. Năm bảy tuổi, bà được nghe Đức Phật giảng và chứng quả Nhập lưu. Lớn lên, bà về làm dâu nhà ông Migāra ở Xá-vệ (Sāvatthī). Về sau, nhờ bà mời Đức Phật về nhà, ông Migāra nghe Pháp và chứng quả Nhập lưu, rồi nói với con dâu: “Từ nay con là mẹ của cha.” Từ đó bà được gọi là mẹ của Migāra.

Bài kệ Pháp Cú gắn với tích truyện ấy rất hợp với cuộc đời bà: “Từ một đống hoa đầy, người ta kết được bao tràng hoa; cũng vậy, sinh làm thân người phải chết, hãy làm thật nhiều điều thiện” (Dhp 53).

Đông Viên, giảng đường của mẹ Migāra

Rất nhiều bài kinh mở đầu: “Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Xá-vệ, tại Đông Viên, giảng đường của mẹ Migāra.” Chẳng hạn Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm được giảng ở đó, giữa nhiều vị trưởng lão nổi tiếng như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, A-nan (MN 118, đoạn 1.2–1.3). Theo chú giải Pháp Cú, một lần bà để quên món trang sức quý nhất của mình ở tinh xá; Tôn giả A-nan cất giữ giúp. Bà nghĩ món đồ đã được bậc Thánh chạm tay thì mình không đeo lại nữa, nên muốn bán đi để lấy tiền làm việc phước. Không ai đủ tiền mua, bà tự bỏ ra số tiền bằng giá trị món trang sức ấy, rồi dùng số tiền đó mua đất và dựng tinh xá ở phía cổng đông thành Xá-vệ.

Tám điều xin cúng dường suốt đời

Luật tạng, Đại Phẩm, kể một buổi sáng mưa lớn. Bà sai người hầu đến tinh xá báo giờ thọ trai; người hầu thấy các vị Tỷ-kheo đang tắm mưa không mặc y, tưởng là các du sĩ lõa thể, về báo không có vị Tỷ-kheo nào. Bà hiểu ngay chuyện gì và sai đi lại (Kd 8, đoạn 15.2.1–15.4.9). Sau bữa trai, bà xin Đức Phật tám điều: suốt đời được dâng y tắm mưa cho Tăng, bữa ăn cho chư Tăng mới đến, cho chư Tăng sắp lên đường, cho người bệnh, cho người chăm bệnh, thuốc cho người bệnh, cháo thường xuyên, và y tắm cho Ni chúng (đoạn 15.6.5–15.7.1).

Lý do của từng điều cho thấy một người rất tinh ý: vị Tỷ-kheo mới đến chưa biết đường đi khất thực sẽ mệt; vị sắp lên đường mà phải tự lo bữa ăn sẽ đến nơi muộn; người chăm bệnh mà phải đi khất thực thì người bệnh ăn trễ quá giờ (đoạn 15.8.1–15.9.6). Khi Đức Phật hỏi bà thấy lợi ích gì, bà trả lời:

con sẽ đi đến kết luận là: ‘Chắc chắn rằng vị đại đức ấy đã thọ dụng hoặc là vải choàng (tắm) mưa, hoặc là bữa ăn dành cho vị vãng lai, hoặc là bữa ăn dành cho vị xuất hành, hoặc là bữa ăn dành cho vị bị bệnh, hoặc là bữa ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, hoặc là dược phẩm dành cho vị bị bệnh, hoặc là cháo hàng ngày của con.’ Trong khi nhớ lại điều ấy, sự hân hoan sẽ được sanh khởi ở con đây, do sự hân hoan mà hỷ sẽ được sanh khởi, do tâm có hỷ mà thân sẽ khinh an, do thân được khinh an con sẽ cảm giác sự an lạc, do có sự an lạc tâm sẽ được định, điều ấy sẽ có ở con là sự tu tập về Căn Quyền, sự tu tập về Lực, sự tu tập về Giác Chi.

Luật tạng, Đại Phẩm, Kd 8, đoạn 15.13.3–15.13.5

Đức Phật khen “Lành thay, Visākhā” và chấp thuận cả tám điều (đoạn 15.14.1–15.15.2). Bố thí, với bà, không dừng ở việc cho, mà là một con đường tu tâm. Bài Cúng dường chư Tăng có thêm gợi ý cho người tại gia.

Khi người cháu gái mất

Phật Tự Thuyết kể một ngày, đứa cháu gái thân yêu của bà qua đời. Giữa trưa, bà đến gặp Đức Phật, áo và tóc còn ướt. Đức Phật hỏi bà có muốn có nhiều con cháu như số người ở Xá-vệ không. Bà nói muốn. Ngài hỏi mỗi ngày ở Xá-vệ có bao nhiêu người chết. Bà đáp có ngày mười người, có ngày một người, không ngày nào không có người chết. “Vậy có khi nào áo và tóc của con không ướt?” Bà thưa: “Không, bạch Thế Tôn. Con không cần nhiều con cháu như vậy nữa” (Ud 8.8, đoạn 1.3–4.3).

- Này Visàkhà, những ai có một trăm người thân yêu, những người ấy có trăm sự đau khổ! Những ai có chín mươi người thân yêu, những người ấy có chín mươi sự đau khổ! Những ai có tám mươi người thân yêu, những người ấy có tám mươi sự đau khổ! Những ai có bảy mươi.. có sáu mươi... có năm mươi... có bốn mươi... có ba mươi.. có hai mươi... có mười.. có chín... có tám... có bảy..có sáu.. có năm... có bốn... có ba... có hai... có một người thân yêu, những người ấy có một sự đau khổ. Những ai không có người thân yêu, những người ấy không có sự đau khổ. Ta nói rằng họ là người không có sầu, không có tham đắm, không có ưu não.

Phật Tự Thuyết 8.8, đoạn 5.1–5.20

Lời này hướng đến sự giải thoát trọn vẹn, nên nghe có vẻ lạnh. Nhưng hãy nhìn cách Đức Phật nói: Ngài không giảng ngay, mà hỏi từng câu để chính bà tự thấy. Với người tại gia như chúng ta, lời dạy ấy nhắc thương mà biết rằng mọi người thân đều vô thường, để khi chia lìa, nỗi đau không nhấn chìm mình. Bài Mất người thân, Phật dạy gì có thêm những lời kinh nâng đỡ.

Ngày Bố-tát của bậc Thánh

Một lần khác, bà đến lúc giữa trưa và nói hôm nay bà giữ ngày Bố-tát. Đức Phật dạy có ba cách giữ: kiểu người chăn bò chỉ tính chuyện ngày mai ăn gì, kiểu ngoại đạo, và kiểu của bậc Thánh, là nhớ nghĩ đến Phật, Pháp, Tăng, giới, chư thiên, và sống một ngày một đêm như các bậc A-la-hán (AN 3.70, đoạn 1.3–2.3 và từ đoạn 4.1 trở đi). Tăng Chi Bộ 8.43 cũng là lời Đức Phật dạy bà về tám giới Bố-tát. Bạn có thể đọc Kinh Bát Quan Trai (AN 8.41) và bài Giữ bát quan trai giới.

Đức Phật cũng dạy bà về người phụ nữ tại gia: khéo tổ chức công việc nhà, chăm lo người giúp việc, biết ai đang ốm để chia phần ăn phù hợp, giữ gìn tài sản của gia đình; và để có lợi ích đời sau, thành tựu niềm tin, giới, bố thí và trí tuệ (AN 8.49, đoạn 2.1–12.1). Một người mẹ, một người vợ, một người quản lý nhà cửa, đồng thời là một Thánh đệ tử.

Một gợi ý nhỏ

Tháng này, bạn thử chọn một “món quà lâu dài” vừa sức mình, như một phần thuốc men gửi đến chùa mỗi tháng, hay một bữa ăn cho người chăm bệnh trong bệnh viện. Rồi thỉnh thoảng nhớ lại việc ấy và để niềm hoan hỉ khởi lên, như bà Visākhā đã làm. Đó cũng là một cách tu tâm.

Viết bởi Diệu Hạnh

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 1.259, phẩm Bậc Nhất, AN 1.258–267 trên SuttaCentral.
  2. Luật tạng, Đại Phẩm, chương Y (Cīvarakkhandhaka), chuyện bà Visākhā, Kd 8 trên SuttaCentral.
  3. Phật Tự Thuyết 8.8, Kinh Visākhā, Ud 8.8 trên SuttaCentral.
  4. Tăng Chi Bộ 3.70, Kinh Ngày Bố-tát, AN 3.70 trên SuttaCentral.
  5. Tăng Chi Bộ 8.43, AN 8.43 trên SuttaCentral.
  6. Tăng Chi Bộ 8.49, AN 8.49 trên SuttaCentral.
  7. Trung Bộ 118, Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, MN 118 trên SuttaCentral.
  8. Pháp Cú 53, Dhp 44–59 trên SuttaCentral.
  9. Thân thế bà Visākhā, danh xưng mẹ của Migāra và việc dựng Đông Viên: theo chú giải Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā, tích truyện kệ 53).
  10. Các đoạn kinh trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu (bản trên SuttaCentral; các bài thuộc Tiểu Bộ theo bản trên BuddhaSasana, budsas.org), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.
  11. Các câu kinh dẫn ngắn trong thân bài do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.
  12. Các đoạn Luật tạng trích trong khung: bản dịch tiếng Việt của Tỳ khưu Indacanda (Tam Tạng Pāli - Việt, tamtangpaliviet.net), trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Tích truyện của bài kệ

Tích truyện kể duyên do Đức Phật nói bài kệ, theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā), không phải lời kinh gốc.

Đọc nguyên văn bài kinh