Vì sao các chú Sa-di đi khất thực
Buổi sáng sớm, một hàng các vị sư và các chú Sa-di nhỏ ôm bát đi chân trần qua xóm. Người lần đầu thấy có khi nghĩ đó là đi xin. Thật ra khất thực là một nếp sống được Đức Phật đặt ra, có ý nghĩa cho cả người cho lẫn người nhận.
Các chú Sa-di là ai
Luật tạng kể khi Đức Phật về thăm Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), cậu bé La-hầu-la (Rāhula) theo lời mẹ đến xin phần thừa tự. Đức Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) cho cậu xuất gia, và dạy cách cho xuất gia làm Sa-di: cạo râu tóc, đắp y ca-sa, rồi đọc ba lần lời quy y Phật, Pháp, Tăng (Luật tạng, Đại Phẩm, đoạn 54.1.5–54.4.1). Theo truyền thống, phần thừa tự mà Đức Phật trao cho con không phải vàng bạc, mà là Pháp, và La-hầu-la được xem là vị Sa-di đầu tiên. Bài La-hầu-la và người mẹ kể thêm về Tôn giả.
Luật tạng cũng ghi mười giới của Sa-di: tránh sát sinh, trộm cắp, hành dâm, nói dối, uống chất say, ăn phi thời, xem múa hát, dùng vòng hoa và đồ trang điểm, nằm giường cao rộng, và nhận vàng bạc, tiền bạc (Đại Phẩm, đoạn 56.1.4–56.1.14). Không giữ tiền, không nấu nướng riêng, các chú Sa-di cùng chư Tăng sống nhờ vật thực do người tại gia dâng cúng.
Đức Phật cũng ôm bát
Nhiều bài kinh mở đầu bằng cùng một cảnh: “Vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y, đi vào Xá-vệ (Sāvatthī) để khất thực” (Kinh Tập 1.7, đoạn 1.3). Kinh Kẻ Bần Tiện còn ghi Ngài “đi khất thực tuần tự từng nhà” (đoạn 1.5), không bỏ qua nhà nào, không chọn nhà sang. Khi thọ giới Tỷ-kheo, mỗi vị được dạy bốn điều nương tựa, điều đầu tiên là: “Đời sống xuất gia nương vào vật thực khất thực; con hãy nỗ lực như vậy suốt đời” (Luật tạng, Đại Phẩm, đoạn 77.1.2–77.1.3). Luật cũng cho phép nhận thêm những bữa cơm được mời, nhưng khất thực là nền.
Vì sao lại chọn sống bằng bình bát
Đức Phật không tô hồng nếp sống này. Ngài nói với chư Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo, nghề sống thấp nhất trong các nghề sống là đi khất thực. Người đời mắng rằng: ‘Đồ ăn xin, tay cầm bát đi lang thang!’ Vậy mà những thiện gia nam tử chọn nếp sống ấy vì một mục đích”; không phải vì bị vua bắt, bị cướp đuổi, vì nợ nần, vì sợ hãi hay vì không có kế sinh nhai, mà vì nghĩ: “Mong rằng toàn bộ khối khổ này có thể được chấm dứt” (Tương Ưng Bộ 22.80, đoạn 6.1–6.6).
Có ba lẽ dễ thấy. Một, khất thực giữ cho người tu khiêm tốn: mỗi bữa ăn đều nhờ lòng tốt của người khác, nên không ai có thể kiêu mạn. Hai, khất thực giữ cho người tu ít lo toan: không tiền, không bếp, không chợ, thời gian dành cho học và hành. Ba, khất thực gắn người tu với đời sống của xóm làng. Đức Phật dạy: “Người tại gia rất có ích cho các con, vì họ dâng y áo, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men; các con cũng rất có ích cho họ, vì các con giảng Pháp cho họ. Như vậy, nương tựa lẫn nhau mà đời sống phạm hạnh được sống” (Như Thị Thuyết 107, đoạn 2.1–2.3).
Pháp Cú tả cách người tu đi vào làng: “Như con ong tìm đến bông hoa, để sắc hương còn nguyên vẹn, hút lấy mật rồi bay đi; bậc hiền đi vào làng cũng vậy” (Pháp Cú, kệ 49). Người khất thực nhận vừa đủ, không làm phiền ai, không để lại gánh nặng cho nhà nào. Khi thọ dụng, vị ấy quán xét: ăn “không nhằm vui chơi, không nhằm say sưa, không nhằm tô điểm, mà chỉ để thân này được duy trì” và hỗ trợ đời sống phạm hạnh (Trung Bộ 2, đoạn 14.1–14.2).
Khất thực theo truyền thống ngày nay
Theo truyền thống các nước Nam truyền và các chùa Nam tông ở Việt Nam, chư Tăng và các chú Sa-di đi thành hàng theo thứ tự hạ lạp, đi chân trần, mắt nhìn xuống, giữ im lặng, không xin, không chờ lâu trước một nhà. Người dâng đứng hoặc quỳ bên đường, đặt vật thực vào bát bằng hai tay. Ở nhiều nơi, các chú Sa-di nhỏ đi sau cùng, học từ chính những buổi sáng như thế. Thử hình dung một cậu bé mười hai tuổi lần đầu ôm bát đi qua chợ: cậu học được sự biết ơn từ mỗi vắt xôi, sự nhẫn nại từ mỗi con đường dài, và sự giản dị từ một chiếc bát.
Một gợi ý nhỏ
Nếu gần nhà có chùa Nam tông đi khất thực, bạn thử một sáng dậy sớm, nấu một nồi cơm nhỏ, đứng bên đường chờ. Khi đặt cơm vào bát, hãy để ý tâm mình lúc ấy. Bài Cúng dường chư Tăng và Lần đầu đi chùa Nam tông có thêm vài lưu ý nhỏ.
Viết bởi Tuệ Minh
Nguồn trích dẫn
- Luật tạng, Đại Phẩm, chương thứ nhất (Mahākhandhaka), Kd 1 trên SuttaCentral.
- Kinh Tập 1.7, Kinh Kẻ Bần Tiện (Vasala Sutta), Snp 1.7 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 22.80, Kinh Khất Thực (Piṇḍolya Sutta), SN 22.80 trên SuttaCentral.
- Như Thị Thuyết 107, Kinh Rất Có Ích (Bahukāra Sutta), Iti 107 trên SuttaCentral.
- Pháp Cú, kệ 49, Dhp 44–59 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 2, Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Sabbāsava Sutta), MN 2 trên SuttaCentral.
- Các đoạn trích Luật tạng do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Brahmali.
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.