Pháp Cú, kệ 306–319 · Dhp 306–319

Kinh Pháp Cú, Phẩm Địa Ngục

Dhammapada, Nirayavagga

Mười bốn bài kệ chỉ ra những lối sống tự đẩy mình xuống thấp, từ lời vu khống, sự buông thả trong áo tu, chuyện ngoại tình, đến cái thấy lệch lạc, và lối ra cho mỗi điều ấy.

Trước khi đọc kinh

Phẩm thứ hai mươi hai của Kinh Pháp Cú mang tên Niraya, địa ngục. Đây là một phẩm nghiêm khắc nhưng không nhằm hù dọa: mỗi bài kệ chỉ ra một lối sống tự đẩy mình xuống thấp, và nhiều bài chỉ luôn lối ra. Bài kệ mở đầu đặt hai hạng người cạnh nhau: kẻ nói điều không có thật để vu cho người khác, và kẻ đã làm rồi lại chối “tôi không làm”; sau khi chết cả hai ngang nhau, vì cùng mang nghiệp thấp hèn (kệ 306). Theo chú giải, bài kệ gắn với nữ du sĩ Sundarī ở thành Xá-vệ (Sāvatthī). Các nhóm ngoại đạo thấy lợi lộc và sự kính trọng dồn về Đức Phật và Tăng chúng, bèn xúi cô chiều chiều đi về phía Kỳ Viên (Jetavana), sáng ra lại từ hướng ấy trở về, rồi nói với mọi người rằng mình đã ở đêm trong hương thất của Sa-môn Gotama. Vài ngày sau, họ thuê bọn côn đồ giết cô, giấu xác trong đống hoa tàn gần hương thất, rồi loan tin rằng các đệ tử Phật đã giết cô để che lỗi cho thầy. Đức Phật dạy các Tỷ-kheo cứ lấy bài kệ này mà đáp lại. Chú giải kể tiếp: bọn côn đồ cầm tiền đi uống rượu, cãi nhau và lỡ lời để lộ việc mình làm, người của nhà vua bắt được chúng, nhờ vậy sự thật được sáng tỏ.

Kệ 307–308 nói thẳng với người khoác áo tu mà sống buông thả: nhiều kẻ quấn y vàng quanh cổ mà tánh tình xấu ác, chẳng biết tự chế, chính việc ác của họ đưa họ vào địa ngục; thà nuốt hòn sắt nung đỏ còn hơn kẻ phá giới ăn cơm của dân trong xứ dâng cúng. Theo chú giải, kệ 308 gắn với các Tỷ-kheo bên bờ sông Vaggumudā, những vị đã khen nhau chứng pháp thượng nhân trước mặt cư sĩ chỉ để được ăn uống, câu chuyện có trong Luật tạng. Kệ 309–310 là lời nhắc cho người tại gia về giới thứ ba: người phóng dật đi lại với vợ người khác chuốc lấy bốn điều, là điều vô phước, giấc ngủ chẳng yên, tiếng chê bai và cõi khổ; niềm vui vụng trộm thì ngắn ngủi, còn hình phạt thì nặng nề. Theo chú giải, hai bài kệ được nói cho Khemaka, cháu của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), một chàng trai đẹp đẽ đã ba lần bị lính tuần bắt giải lên vua vì chuyện ấy; chính ông Cấp Cô Độc đưa cháu đến gặp Đức Phật, và nghe xong, Khemaka chứng quả Nhập lưu.

Phần giữa phẩm nói về sự hời hợt trong tu tập: cỏ kusa nắm không khéo thì cứa vào tay, đời sống Sa-môn nắm giữ sai lầm thì kéo người xuống địa ngục; việc gì đáng làm thì hãy dốc sức làm cho vững (kệ 311–313). Kệ 314 là câu nhiều người nên thuộc: việc ác không làm thì hơn, vì làm rồi về sau ray rứt; việc lành làm được thì hơn, vì làm rồi chẳng phải ăn năn. Theo chú giải, bài kệ được nói khi một người đàn bà ghen đã trói cô hầu, cắt tai mũi cô, nhốt vào phòng kín, rồi rủ chồng đến tịnh xá nghe Pháp như chưa có chuyện gì. Kệ 315 dùng hình ảnh thành trì nơi biên giới được canh giữ cả trong lẫn ngoài: hãy giữ gìn chính mình như thế, đừng để thời khắc quý báu trôi qua. Theo chú giải, thời khắc ấy là cơ hội đang có trong tay: được sinh ra khi có Phật ra đời, sinh ở vùng đất trung tâm, có được chánh kiến, sáu căn đầy đủ. Bốn bài kệ cuối nói về cái thấy lệch lạc: thẹn điều không đáng thẹn, không thẹn điều đáng thẹn, sợ điều không đáng sợ, xem có lỗi là không lỗi, đều dẫn đến cõi khổ; còn biết có lỗi là có lỗi, không lỗi là không lỗi, ôm giữ chánh kiến, thì đi đến cõi lành (kệ 316–319).

Ý chính

  • Kẻ vu khống và kẻ làm rồi chối đều chung một cảnh khổ sau khi chết (kệ 306).
  • Khoác áo tu mà không tự chế, thà nuốt hòn sắt nung đỏ còn hơn ăn của tín thí (kệ 307–308).
  • Ngoại tình chuốc lấy vô phước, mất ngủ, tiếng chê và cõi khổ (kệ 309–310).
  • Việc ác không làm thì hơn, việc lành làm được thì hơn (kệ 314).
  • Hãy giữ mình như thành trì biên giới, đừng để thời khắc quý báu trôi qua (kệ 315).
  • Biết có lỗi là có lỗi, không lỗi là không lỗi, giữ chánh kiến thì đi đến cõi lành (kệ 318–319).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
niraya
địa ngục
abhūtavādī
kẻ nói điều không có thật, kẻ vu khống
kāsāvakaṇṭha
người quấn y cà-sa quanh cổ
paradāra
vợ của người khác
dukkaṭa
việc làm xấu, việc ác
khaṇa
thời khắc, cơ hội hiếm có
micchādiṭṭhi
tà kiến, cái thấy sai
vajja
lỗi lầm, điều đáng chê

Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 9 tích truyện của phẩm Địa Ngục theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Thiền viện Viên Chiếu dịch): xem các tích ›

Kinh Pháp Cú, Phẩm Địa Ngục

Chuyện nữ du sĩ SundarīSundarīparibbājikāvatthu Đọc tích truyện ›

306.1Nói láo đọa địa ngụcAbhūtavādī nirayaṁ upeti,A liar goes to hell,

306.2Có làm nói không làm,Yo vāpi katvā na karomi cāha;as does one who denies what they did.

306.3Cả hai chết đồng đẳng,Ubhopi te pecca samā bhavanti,Both are equal in the hereafter,

306.4Làm người, nghiệp hạ liệt.Nihīnakammā manujā parattha.those men of base deeds.

Chuyện những chúng sinh chịu quả ác hạnhDuccaritaphalapīḷitavatthu Đọc tích truyện ›

307.1Nhiều người khoác cà-sa,Kāsāvakaṇṭhā bahavo,Many who wear a scrap of ocher cloth

307.2Ác hạnh không nhiếp phục.pāpadhammā asaññatā;are unrestrained and wicked.

307.3Người ác, do ác hạnh,Pāpā pāpehi kammehi,Being wicked, they are reborn in hell

307.4Phải sanh cõi Địa ngục.nirayaṁ te upapajjare.due to their bad deeds.

Chuyện các Tỷ-kheo bên bờ sông VaggumudāVaggumudātīriyabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

308.1Tốt hơn nuốt hòn sắtSeyyo ayoguḷo bhutto,It’d be better for the immoral and unrestrained

308.2Cháy đỏ như than hồng,tatto aggisikhūpamo;to eat an iron ball,

308.3Hơn ác giới, buông lungYañce bhuñjeyya dussīlo,scorching, like a burning flame,

308.4Ăn đồ ăn quốc độ.raṭṭhapiṇḍamasaññato.than to eat the nation’s alms.

Chuyện Khemaka, con nhà trưởng giảKhemakaseṭṭhiputtavatthu Đọc tích truyện ›

309.1Bốn nạn chờ đợi người,Cattāri ṭhānāni naro pamatto,Four things befall a heedless man

309.2Phóng dật theo vợ người;Āpajjati paradārūpasevī;who sleeps with another’s wife:

309.3Mắc họa, ngủ không yên,Apuññalābhaṁ na nikāmaseyyaṁ,wickedness, poor sleep,

309.4Bị chê là thứ ba,
Đọa địa ngục, thứ bốn.
Nindaṁ tatīyaṁ nirayaṁ catutthaṁ.ill-repute, and rebirth in hell.

310.1Mắc họa, đọa ác thú,Apuññalābho ca gatī ca pāpikā,He accrues wickedness and is reborn in a bad place,

310.2Bị hoảng sợ, ít vui.Bhītassa bhītāya ratī ca thokikā;all so a frightened couple may snatch a moment’s pleasure,

310.3Quốc vương phạt trọng hình.Rājā ca daṇḍaṁ garukaṁ paṇeti,for which rulers impose a heavy punishment.

310.4Vậy chớ theo vợ người.Tasmā naro paradāraṁ na seve.That’s why a man should not sleep with another’s wife.

Chuyện vị Tỷ-kheo khó dạyDubbacabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

311.1Như cỏ sa vụng nắm,Kuso yathā duggahito,When kusa grass is wrongly grasped

311.2Tất bị họa đứt tay.hatthamevānukantati;it only cuts the hand.

311.3Hạnh sa môn tà vạy,Sāmaññaṁ dupparāmaṭṭhaṁ,So too, the ascetic life, when wrongly taken,

311.4Tất bị đọa địa ngục.nirayāyupakaḍḍhati.drags you to hell.

312.1Sống phóng đãng buông lung,Yaṁ kiñci sithilaṁ kammaṁ,Any lax act,

312.2Theo giới cấm ô nhiễm,saṅkiliṭṭhañca yaṁ vataṁ;any corrupt observance,

312.3Sống phạm hạnh đáng nghiSaṅkassaraṁ brahmacariyaṁ,or suspicious spiritual life,

312.4Sao chứng được quả lớn.na taṁ hoti mahapphalaṁ.is not very fruitful.

313.1Cần phải làm, nên làmKayirā ce kayirāthenaṁ,If one is to do what should be done,

313.2Làm cùng tận khả năngdaḷhamenaṁ parakkame;one should staunchly strive.

313.3Xuất gia sống phóng đãng,Sithilo hi paribbājo,For the life gone forth when laxly led

313.4Chỉ tăng loạn bụi đời.bhiyyo ākirate rajaṁ.just stirs up dust all the more.

Chuyện người đàn bà ghen tuôngIssāpakataitthivatthu Đọc tích truyện ›

314.1Ác hạnh không nên làm,Akataṁ dukkaṭaṁ seyyo,A bad deed is better left undone,

314.2Làm xong, chịu khổ lụy,pacchā tappati dukkaṭaṁ;for it will plague you later on.

314.3Thiện hạnh, ắt nên làm,Katañca sukataṁ seyyo,A good deed is better done,

314.4Làm xong, không ăn năn.yaṁ katvā nānutappati.one that does not plague you.

Chuyện nhiều vị Tỷ-kheo ở vùng biên địaSambahulabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›

315.1Như thành ở biên thùy,Nagaraṁ yathā paccantaṁ,As a frontier city

315.2Trong ngoài điều phòng hộguttaṁ santarabāhiraṁ;is guarded inside and out,

315.3Cũng vậy, phòng hộ mình,Evaṁ gopetha attānaṁ,so you should ward yourselves—

315.4Sát na chớ buông lung.khaṇo vo mā upaccagā;don’t let the moment pass you by.

315.5Sát na chớ buông lung.Khaṇātītā hi socanti,For if you miss your moment

315.6Khi rơi vào địa ngục.nirayamhi samappitā.you’ll grieve when sent to hell.

Chuyện các tu sĩ Ni-kiền-tửNigaṇṭhavatthu Đọc tích truyện ›

316.1Không đáng hổ, lại hổ.Alajjitāye lajjanti,Unashamed of what is shameful,

316.2Việc đáng hổ, lại không.lajjitāye na lajjare;ashamed of what is not shameful;

316.3Do chấp nhận tà kiến,Micchādiṭṭhisamādānā,beings who uphold wrong view

316.4Chúng sanh đi ác thú.sattā gacchanti duggatiṁ.go to a bad place.

317.1Không đáng sợ, lại sợ,Abhaye bhayadassino,Seeing danger where there is none,

317.2Đáng sợ, lại thấy không,bhaye cābhayadassino;and blind to the actual danger,

317.3Do chấp nhận tà kiến,Micchādiṭṭhisamādānā,beings who uphold wrong view

317.4Chúng sanh đi ác thú.sattā gacchanti duggatiṁ.go to a bad place.

Chuyện các tín đồ ngoại đạoTitthiyasāvakavatthu Đọc tích truyện ›

318.1Không lỗi, lại thấy lỗi,Avajje vajjamatino,Seeing fault where there is none,

318.2Có lỗi, lại thấy không,vajje cāvajjadassino;and blind to the actual fault,

318.3Do chấp nhận tà kiến,Micchādiṭṭhisamādānā,beings who uphold wrong view

318.4Chúng sanh đi ác thú.sattā gacchanti duggatiṁ.go to a bad place.

319.1Có lỗi, biết có lỗi,Vajjañca vajjato ñatvā,Knowing a fault as a fault

319.2Không lỗi, biết là không,avajjañca avajjato;and the faultless as faultless,

319.3Do chấp nhận chánh kiến,Sammādiṭṭhisamādānā,beings who uphold right view

319.4Chúng sanh đi cõi lành.sattā gacchanti suggatiṁ.go to a good place.

319.5Nirayavaggo dvāvīsatimo.

Viết bởi Chánh Tín

Nguồn trích dẫn

  1. Pháp Cú, kệ 306–319 (Dhammapada, Nirayavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 306–319 trên SuttaCentral.
  2. Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
  3. Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.

Đọc tiếp