Kinh Pháp Cú, Phẩm Voi
Dhammapada, Nāgavagga
Còn gọi là: Phẩm Tượng
Mười bốn bài kệ lấy hình ảnh con voi để nói về sức nhẫn chịu, sự tự điều phục, việc chọn bạn đồng hành và những niềm vui giản dị của một đời sống lành.
Trước khi đọc kinh
Phẩm thứ hai mươi ba của Kinh Pháp Cú mang tên Nāga, con voi. Con voi trong các bài kệ là hình ảnh của sức chịu đựng và của sự thuần hóa. Ba bài kệ mở đầu là lời Đức Phật nói về chính Ngài: như con voi nơi chiến địa chịu những mũi tên từ cung bay đến, Ta sẽ nhẫn chịu lời mắng nhiếc, vì phần đông người đời sống không giới hạnh (kệ 320). Theo chú giải, chuyện xảy ra ở thành Kiều-thưởng-di (Kosambī): bà Māgaṇḍiyā, hoàng hậu của vua Udena, ôm hận với Đức Phật, bỏ tiền thuê dân trong thành đi theo Ngài mà chửi rủa đủ mười điều. Ngài A-nan (Ānanda) xin Đức Phật sang thành khác; Ngài hỏi nếu ở đó người ta cũng chửi thì lại đi đâu nữa, và dạy rằng chuyện khởi lên ở đâu thì nên đợi nó lắng xuống ở đó rồi hãy đi. Giữa loài người, người tự điều phục, nhẫn chịu được lời mắng nhiếc là người cao quý nhất, quý hơn cả la thuần, ngựa thuần chủng xứ Sindhu hay voi lớn có ngà (kệ 321–322).
Kệ 323 nói rằng không cỗ xe nào chở ta đến được phương chưa từng đến; chỉ người khéo điều phục chính mình mới đến được. Theo chú giải, bài kệ nói với một Tỷ-kheo vốn là thầy dạy voi, thấy người quản tượng bên sông Aciravatī loay hoay không dạy được voi, bèn nói với các vị Tỷ-kheo đứng cạnh cách dạy voi, người quản tượng nghe được, làm theo và thành công; Đức Phật quở vị ấy và nhắc rằng điều cần thuần hóa là chính mình. Kệ 324 kể về con voi tên Dhanapāla bị bắt đem về, được dọn đồ ăn ngon mà không chịu ăn một miếng, chỉ nhớ rừng voi. Theo chú giải, đó là chuyện tiền thân của chính Đức Phật, con voi nhớ thương mẹ đang khổ sở trong rừng vì xa con. Ngài kể chuyện này khi bốn người con của một vị Bà-la-môn già, vốn đã nhận hết tài sản rồi để cha phải đi xin ăn, nay đã đón cha về phụng dưỡng; nghe chuyện, tất cả đều rơi nước mắt. Kệ 325 vẽ một hình ảnh rất đời: kẻ ăn uống quá độ, ham ngủ, nằm trở mình hết bên này sang bên kia như con heo được vỗ béo, cứ vào thai hết lần này đến lần khác. Theo chú giải, Đức Phật nói bài kệ khi vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) vừa ăn một bữa thật no đã đến ngay, mệt mỏi, buồn ngủ, ngồi không yên; về sau nhà vua ăn bớt dần và thân thể trở nên nhẹ nhàng, khỏe khoắn.
Kệ 326 là lời quyết tâm của người tu: trước kia tâm này rong ruổi theo ý thích, nay ta sẽ chế ngự nó như người cầm móc điều khiển voi đang cơn hăng; theo chú giải, bài kệ nói với chú Sa-di Sānu, người suýt hoàn tục và được mẹ khuyên ở lại đời tu. Kệ 327 dạy hãy vui thích sự không phóng dật, tức không buông lung mà luôn tỉnh táo, và tự kéo mình lên khỏi chốn hiểm nạn như voi lún giữa bùn lầy. Theo chú giải, con voi già Pāveyyaka của vua nước Kiều-tát-la (Kosala) bị lún trong bùn, người quản tượng cho đánh trống trận, con voi nghe tiếng liền vùng dậy lên bờ. Ba bài kệ 328–330 nói về bạn đồng hành: gặp được bạn khôn ngoan, sống hiền thiện thì hãy cùng đi, lòng hoan hỷ và giữ chánh niệm; không gặp thì thà đi một mình như voi chúa giữa rừng, vì với kẻ ngu chẳng có tình bạn. Phẩm kết bằng ba bài kệ về những niềm vui giản dị: có bạn giúp lúc cần, biết đủ, có phước khi mạng sống tàn, hiếu kính cha mẹ, kính trọng người tu, giữ giới đến tuổi già, có niềm tin vững và trí tuệ, không làm điều ác (kệ 331–333). Theo chú giải, đây là lời Đức Phật đáp Ma vương (Māra), khi Ma vương đến khuyên Ngài hãy cai trị thiên hạ bằng chánh pháp.
Ý chính
- Như voi nơi chiến địa chịu tên bay đến, Đức Phật nhẫn chịu lời mắng nhiếc (kệ 320).
- Người tự điều phục, nhẫn chịu lời thô ác là người cao quý nhất (kệ 321–322).
- Ăn uống quá độ, ham ngủ thì cứ vào thai hết lần này đến lần khác (kệ 325).
- Hãy vui thích sự không phóng dật, tự kéo mình lên như voi lún giữa bùn lầy (kệ 327).
- Gặp bạn hiền thì cùng đi; không gặp thì thà đi một mình (kệ 328–330).
- Hiếu kính cha mẹ, giữ giới đến già, không làm điều ác là niềm vui (kệ 332–333).
Thuật ngữ Pāli trong kinh
- nāga
- voi lớn, voi chúa
- ativākya
- lời mắng nhiếc, lời thô ác
- attadanta
- người tự điều phục
- aṅkusa
- móc sắt điều khiển voi
- appamāda
- không phóng dật, không buông lung
- nipaka
- khôn ngoan, chín chắn
- sahāya
- bạn đồng hành
- matteyyatā
- lòng hiếu kính đối với mẹ
Tích truyện các bài kệĐức Phật nói mỗi bài kệ trong một hoàn cảnh riêng. Đọc 8 tích truyện của phẩm Voi theo Chú giải Kinh Pháp Cú (Thiền viện Viên Chiếu dịch): xem các tích ›
Kinh Pháp Cú, Phẩm Voi
Chuyện bậc tự điều phụcAttadantavatthu Đọc tích truyện ›
320.1Ta như voi giữa trậnAhaṁ nāgova saṅgāme,Like an elephant struck
320.2Hứng chịu cung tên rơi,cāpato patitaṁ saraṁ;with arrows in battle,
320.3Chịu đựng mọi phỉ báng.Ativākyaṁ titikkhissaṁ,I shall endure abuse,
320.4Ác giới rất nhiều người.dussīlo hi bahujjano.for so many folk are badly behaved.
321.1Voi luyện, đưa dự hội,Dantaṁ nayanti samitiṁ,The well-tamed beast is the one led to the crowd;
321.2Ngựa luyện, được vua cưỡi,dantaṁ rājābhirūhati;the tamed elephant’s the one the king mounts;
321.3Người luyện, bậc tối thượngDanto seṭṭho manussesu,the tamed person who endures abuse
321.4Chịu đựng mọi phỉ báng.yotivākyaṁ titikkhati.is the best of human beings.
322.1Tốt thay, con la thuần,Varamassatarā dantā,Those who have tamed themselves are better
322.2Thuần chủng loài ngựa xinh.ājānīyā ca sindhavā;than fine tamed mules,
322.3Đại tượng, voi có ngà.Kuñjarā ca mahānāgā,thoroughbreds from Sindh,
322.4Tự điều mới tối thượng.attadanto tato varaṁ.or giant tuskers.
Chuyện vị Tỷ-kheo trước kia là thầy dạy voiHatthācariyapubbakabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
323.1Chẳng phải loài cưỡi ấy,Na hi etehi yānehi,For not on those mounts
323.2Đưa người đến Niết bàn,gaccheyya agataṁ disaṁ;would you go to the untrodden place,
323.3Chỉ có người tự điều,Yathāttanā sudantena,whereas, with the help of one whose self is well tamed,
323.4Đến đích nhờ điều phục.danto dantena gacchati.you go there, tamed by the tamed.
Chuyện những người con của vị Bà-la-môn giàParijiṇṇabrāhmaṇaputtavatthu Đọc tích truyện ›
324.1Con voi tên Tài Hộ,Dhanapālo nāma kuñjaro,The tusker named Dhanapāla
324.2Phát dục, khó điều phục,Kaṭukabhedano dunnivārayo;is musky in rut, hard to control.
324.3Trói buộc, không ăn uống.Baddho kabaḷaṁ na bhuñjati,Bound, he eats not a morsel,
324.4Voi nhớ đến rừng voi.Sumarati nāgavanassa kuñjaro.for he misses the elephant forest.
Chuyện vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tát-laPasenadikosalavatthu Đọc tích truyện ›
325.1Người ưa ngủ, ăn lớnMiddhī yadā hoti mahagghaso ca,One who gets drowsy from overeating,
325.2Nằm lăn lóc qua lại,Niddāyitā samparivattasāyī;fond of sleep, rolling round the bed
325.3Chẳng khác heo no bụng,Mahāvarāhova nivāpapuṭṭho,like a great hog stuffed with grain:
325.4Kẻ ngu nhập thai mãi.Punappunaṁ gabbhamupeti mando.that dullard returns to the womb again and again.
Chuyện chú Sa-di SānuSānusāmaṇeravatthu Đọc tích truyện ›
326.1Trước tâm này buông lung,Idaṁ pure cittamacāri cārikaṁ,In the past my mind wandered
326.2Chạy theo ái, dục, lạc.Yenicchakaṁ yatthakāmaṁ yathāsukhaṁ;how it wished, where it liked, as it pleased.
326.3Nay Ta chánh chế ngự,Tadajjahaṁ niggahessāmi yoniso,Now I’ll carefully guide it,
326.4Như cầm móc điều voi.Hatthippabhinnaṁ viya aṅkusaggaho.as a trainer with a hook guides a rutting elephant.
Chuyện con voi PāveyyakaPāveyyakahatthivatthu Đọc tích truyện ›
327.1Hãy vui không phóng dật,Appamādaratā hotha,Delight in diligence!
327.2Khéo phòng hộ tâm ý.sacittamanurakkhatha;Take good care of your mind!
327.3Kéo mình khỏi ác đạo,Duggā uddharathattānaṁ,Pull yourself out of this pit,
327.4Như voi bị sa lầy.paṅke sannova kuñjaro.like an elephant sunk in a bog.
Chuyện nhiều vị Tỷ-kheoSambahulabhikkhuvatthu Đọc tích truyện ›
328.1Nếu được bạn hiền tríSace labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,If you find an alert companion,
328.2Đáng sống chung, hạnh lành,Saddhiṁ caraṁ sādhuvihāridhīraṁ;an attentive friend to live happily together,
328.3Nhiếp phục mọi hiểm nguyAbhibhuyya sabbāni parissayāni,then, overcoming all adversities,
328.4Hoan hỷ sống chánh niệm.Careyya tenattamano satīmā.wander with them, joyful and mindful.
329.1Không gặp bạn hiền trí.No ce labhetha nipakaṁ sahāyaṁ,If you find no alert companion,
329.2Đáng sống chung, hạnh lànhSaddhiṁ caraṁ sādhuvihāridhīraṁ;no attentive friend to live happily together,
329.3Như vua bỏ nước bạiRājāva raṭṭhaṁ vijitaṁ pahāya,then, like a king who flees his conquered realm,
329.4Hãy sống riêng cô độc,
Như voi sống rừng voi.Eko care mātaṅgaraññeva nāgo.wander alone like a tusker in the wilds.
330.1Tốt hơn sống một mình,Ekassa caritaṁ seyyo,It’s better to wander alone,
330.2Không người ngu kết bạn.Natthi bāle sahāyatā;there’s no fellowship with fools.
330.3Độc thân, không ác hạnhEko care na ca pāpāni kayirā,Wander alone and do no wrong,
330.4Sống vô tư vô lự,
Như voi sống rừng voi.Appossukko mātaṅgaraññeva nāgo.at ease like a tusker in the wilds.
Chuyện Ma vươngMāravatthu Đọc tích truyện ›
331.1Vui thay, bạn lúc cần!Atthamhi jātamhi sukhā sahāyā,A friend in need is a blessing;
331.2Vui thay, sống biết đủ,Tuṭṭhī sukhā yā itarītarena;it’s a blessing to be content with whatever;
331.3Vui thay, chết có đức!Puññaṁ sukhaṁ jīvitasaṅkhayamhi,good deeds are a blessing at the end of life,
331.4Vui thay, mọi khổ đoạn.Sabbassa dukkhassa sukhaṁ pahānaṁ.and giving up all suffering is a blessing.
332.1Vui thay, hiếu kính mẹ,Sukhā matteyyatā loke,In this world it’s a blessing to serve
332.2Vui thay, hiếu kính cha,atho petteyyatā sukhā;one’s mother and one’s father.
332.3Vui thay, kính Sa-môn,Sukhā sāmaññatā loke,And it’s a blessing also to serve
332.4Vui thay, kính Hiền Thánh.atho brahmaññatā sukhā.ascetics and brahmins.
333.1Vui thay, già có giới!Sukhaṁ yāva jarā sīlaṁ,It’s a blessing to keep precepts until you grow old;
333.2Vui thay, tín an trú!sukhā saddhā patiṭṭhitā;a blessing to be grounded in faith;
333.3Vui thay, được trí tuệ,Sukho paññāya paṭilābho,the getting of wisdom’s a blessing;
333.4Vui thay, ác không làm.pāpānaṁ akaraṇaṁ sukhaṁ.and it’s a blessing to avoid doing wrong.
333.5Nāgavaggo tevīsatimo.
Viết bởi Diệu Hạnh
Nguồn trích dẫn
- Pháp Cú, kệ 320–333 (Dhammapada, Nāgavagga). Bản Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka, Dhp 320–333 trên SuttaCentral.
- Bản tiếng Anh: Bhikkhu Sujato dịch, SuttaCentral, phát hành theo giấy phép CC0.
- Bản tiếng Việt: HT. Thích Minh Châu dịch (bản số hoá trên SuttaCentral). Bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu, trích đăng để phụng sự Pháp thí; nếu chủ sở hữu bản quyền có yêu cầu, xin liên hệ 0902 332 970 để điều chỉnh.