Giới và đời sống cư sĩ

Ăn chay có được ăn trứng, uống sữa không? Điều kinh nói và điều kinh không nói

Bạn muốn ăn chay ngày rằm nhưng không chắc: bánh có trứng thì sao, ly sữa buổi sáng thì sao? Người ăn chay lâu năm cũng hay lấn cấn ở hai món này, vì mỗi nơi, mỗi người dặn một kiểu. Kinh tạng Pāli có nói đến thịt, cá, rượu rất rõ, nhưng trứng và sữa thì sao? Bài này tách rõ điều kinh nói, điều kinh để ngỏ, và phần suy luận của người viết.

Tóm lại: Trong các bài kinh bài này dẫn, không có câu nào cấm hay cho phép riêng trứng và sữa; đây là chỗ kinh để ngỏ. Kinh nói rõ ba điều. Một, thước đo là không sát sinh với tâm từ, “có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình” (AN 8.41). Hai, kinh không đặt tên món: Đức Phật cho thọ dụng thịt cá khi không thấy, không nghe, không nghi là bị giết vì mình (MN 55), và dạy rằng điều làm con người trong sạch không phải là kiêng cá thịt mà là bỏ tham, sân, dối trá (Snp 2.2). Ba, theo cách đọc của người viết, sữa và bơ là thứ con bò còn sống cho ra, và kinh khen thời xưa “không giết hại bò” (Snp 2.7). Theo cách đọc của người viết: sữa không đòi giết mạng nào; trứng chưa thụ tinh không có phôi sống, còn trứng có phôi (trứng ấp, vịt lộn) thì khác. Chọn chay thuần hay chay có trứng sữa là chọn theo tâm từ và hoàn cảnh gia đình, không có “điều kiện đủ” nào kinh đặt sẵn.

Hai câu hỏi hay bị trộn làm một

Ở Việt Nam, “ăn chay” có ít nhất ba cách hiểu. Chay thuần thực vật: không thịt, cá, trứng, sữa. Chay có sữa: bỏ thịt cá và trứng, vẫn dùng sữa, bơ. Chay có sữa và trứng: chỉ bỏ thịt và cá. Nhiều chùa Bắc tông ở nước ta thường kiêng trứng trong bữa chay, còn sữa thì tùy chùa; đó là phong tục của từng nơi, không phải một điều khoản trong kinh.

Vì vậy có hai câu hỏi khác nhau. Câu thứ nhất: kinh có bắt phải ăn chay không? Câu này đã có bài riêng, Phật tử có bắt buộc ăn chay không. Câu thứ hai, cũng là câu của bài này: đã chọn ăn chay rồi, hoặc đang giữ ngày chay, thì trứng và sữa tính vào đâu?

Thước đo của kinh: lòng từ, không phải danh sách món

Trong Kinh Các Trai Giới (AN 8.41), Đức Phật dạy người cư sĩ vào ngày trai giới suy nghĩ rằng các bậc A-la-hán trọn đời “đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình”, rồi mình cũng giữ như vậy trong hôm nay. Chữ “sát sinh” dịch từ pāṇātipāta; theo chú giải, đó là cố ý làm một sinh vật mất mạng. Bài Giết muỗi, kiến, gián có phạm giới không nói thêm về chữ “cố ý”.

Điều đáng chú ý là chính bài kinh này cũng nói về ăn uống, nhưng về giờ ăn, không về món ăn: chi phần thứ sáu là “dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm” và “từ bỏ ăn phi thời” (AN 8.41). Tức là ngày trai giới trong kinh khác với ngày “ăn chay” theo nghĩa thường dùng: kinh quy định đúng thời, không liệt kê món nào được hay không. Điều này giải thích vì sao tìm trong kinh một danh sách món chay hợp lệ sẽ không thấy.

Kinh Jīvaka: kinh không đặt tên món, chỉ hỏi có giết vì mình không

Khi có người đồn rằng Đức Phật cố ý dùng thịt con vật bị giết vì mình, Ngài trả lời rõ ràng với ông Jīvaka:

Này Jīvaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết… Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết.

Trung Bộ 55

Bài kinh nói về thịt, không nói về trứng hay sữa. Tuy vậy, tiêu chuẩn Ngài dùng rất đáng mượn để soi: không phải tên món, mà là có một sinh mạng bị lấy đi vì bữa ăn của mình hay không. Mượn tiêu chuẩn ấy để nhìn trứng và sữa là cách đọc của người viết, không phải điều bài kinh nói thẳng. Bài Sư Nam tông có ăn thịt không kể kỹ hơn vì sao chư Tăng Nam truyền nhận vật thực theo ba điều thanh tịnh này.

Sữa: thứ con bò còn sống cho ra

Kinh Pháp Của Bà-la-môn (Snp 2.7) nhắc thời xưa các vị Bà-la-môn sống thanh bạch, khi cần vật phẩm làm lễ thì xin gạo, vải, bơ và dầu một cách đúng pháp, và trong lễ ấy không giết bò. Lý do được nói trong hai khổ kệ:

Bò cho ăn, cho sức,
Cho dung sắc, cho lạc
Biết được lợi ích này,
Họ không giết hại bò.

Kinh Tập 2.7, kệ 15

Đến khi lòng tham lớn dần, kệ 27 kể vua ra lệnh giết hàng trăm ngàn con bò vốn hiền lành, “chúng cho nhiều ghè sữa”, chư thiên và cả tổ tiên đồng thanh kêu lên đó là phi pháp. Bài kinh không phải là bài về chuyện uống sữa. Nhưng trong ánh sáng của nó, theo cách đọc của người viết, sữa và bơ hiện ra như thứ lấy được từ con vật mà không cần giết nó, và chính việc giết con vật mới bị kinh gọi là sai trái.

Cần nói thêm một điều thật lòng: kinh không bàn tới nghề chăn nuôi lấy sữa ngày nay, như chuyện bê con, chuyện bò già hết sữa bị bán đi. Kinh chỉ cho ta thước đo là tâm từ. Ai thấy lấn cấn với chuỗi cung ứng ấy có thể giảm hoặc bỏ sữa; ai thấy yên tâm khi dùng sữa từ nơi mình biết rõ cũng không trái với bất kỳ câu kinh nào bài này dẫn.

Trứng: kinh không bàn, nên hỏi cho đúng

Trong các bài kinh bài này dẫn, không có câu nào bàn thẳng việc ăn hay không ăn trứng. Vì vậy phần dưới đây là cách đọc của người viết, không phải lời kinh. Mượn thước đo là có một sinh mạng bị lấy đi vì bữa ăn của mình hay không, người viết thấy cần phân biệt hai loại trứng. Trứng có phôi, như trứng ấp hay trứng vịt lộn, là sinh mạng đang hình thành, nên ăn nó là lấy đi một mạng sống. Trứng gà công nghiệp bán ngoài chợ thường là trứng chưa thụ tinh, từ đầu đã không thể nở ra gà con, nên không có sinh mạng nào bị lấy đi. Vì không có câu kinh nào chốt thay, ai thấy lấn cấn với trứng mà muốn kiêng thì cứ kiêng; kinh không có câu nào cấm trứng chưa thụ tinh.

Kiêng món có làm mình trong sạch không?

Kinh Mùi Hôi Thối (Snp 2.2) là bài đối chiếu rất hợp cho người hay phân vân chuyện món ăn. Trong đó, một vị ẩn sĩ chất vấn Đức Phật Kassapa (một vị Phật thuở trước) về “mùi hôi thối” (āmagandha) của món thịt. Câu trả lời đi qua nhiều khổ kệ liệt kê những điều xấu, và mỗi lần đều khép bằng:

Đây là đồ ăn thối,
Ăn thịt không phải thối.

Kinh Tập 2.2, kệ 4

Đến kệ 11, kinh nói thẳng rằng không phải do cá thịt, hay các loại nhịn ăn, hay lõa thể, đầu trọc và bện tóc, mà con người trong sạch, nếu “nghi hoặc chưa đoạn”: nghĩa là nếu trong lòng vẫn còn nghi ngờ, tham và sân thì kiêng món nào cũng không đủ. Theo cách đọc của người viết, kinh cũng không chê người ăn chay; điều bị bác là ý nghĩ cho rằng chỉ riêng việc kiêng một món là làm ta thanh tịnh. Bài kinh gói lại bằng lời dạy: phòng hộ các căn, đứng vững trong Pháp, vui với sự ngay thẳng và hiền hòa.

Còn người sống bằng nghề buôn bán thì sao? Kinh Người Buôn Bán (AN 5.177) nêu: “Buôn bán đao kiếm, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán rượu, buôn bán thuốc độc” là năm nghề một nam cư sĩ không nên làm. Danh sách này nhắc “thịt”, không nhắc trứng hay sữa. Kinh không bàn thêm, nên bài này cũng dừng ở đó.

Chư Tăng Nam truyền dùng gì?

Chư Tăng Nam truyền sống bằng vật thực cư sĩ đặt bát hoặc dâng cúng, nên các vị dùng những món được cúng theo ba điều thanh tịnh của MN 55. Theo thực tế sinh hoạt ở các chùa Nam truyền (phong tục, không phải lời kinh), trứng và sữa nếu có trong bữa cúng dường cũng được dùng như các món khác. Người viết chưa kiểm nguồn Luật tạng cho điểm này. Đó là cách sống của chư Tăng, không phải khuôn mẫu cho bữa ăn gia đình. Người cư sĩ lo bữa cơm của nhà mình thì có sự lựa chọn rộng hơn, và có thể dùng những bài kinh trên làm thước đo.

Khi cả nhà mỗi người một kiểu

Trong nhiều gia đình, người ăn chay trường, người ăn chay kỳ và người ăn mặn ngồi chung một mâm. Điều các bài kinh trên nhấn mạnh là lòng từ và sự trong sạch của tâm, nên cách ứng xử gọn nhất là mỗi người giữ phần của mình mà không bình phẩm phần của người khác. Người ăn chay không cần gắn nhãn “phạm giới” lên mâm của người thân; người ăn mặn cũng không cần chế giễu việc kiêng trứng, kiêng sữa. Nếu bạn là người nấu bếp, thử chia nồi: một phần chay thuần, một phần có trứng và sữa. Ai cũng tự quyết điều mình ăn, và bữa cơm vẫn là nơi để nhớ ơn nhau, không phải nơi tranh luận đúng sai.

Thử hình dung một bữa ăn chay ngày rằm

Chị Mai ăn chay hai ngày mỗi tháng, mùng một và rằm. Sáng nay chị vào quán, thấy chiếc bánh mì chay có trứng chiên. Chị hỏi mình ba câu: món này có cần giết một con vật nào vì mình không? Quả trứng này là trứng công nghiệp hay trứng ấp? Và mình chọn ngày chay này để làm gì, để thực hành lòng từ hay để ghi đủ “điều kiện” cho đúng? Nếu hai câu đầu trả lời được và câu thứ ba hướng về lòng từ, chị thấy yên tâm khi ăn, và đó là lựa chọn riêng của chị, không phải quy tắc kinh đặt ra. Nếu chị thấy cấn, chị gọi món khác, không cần biện luận. Ở nhà chồng, mẹ chồng ăn chay trường không dùng trứng. Chị nấu riêng phần của mẹ không có trứng, cho vui lòng người, không để hơn thua đúng sai.

Một gợi ý nhỏ

Hôm nay, bạn thử ghi lên giấy ba dòng: mình ăn chay vì lý do gì; mình sẽ dùng sữa, trứng hay không; và mình sẽ nói sao khi người nhà hỏi. Rồi đọc lại Kinh Mùi Hôi Thối một lần. Nếu ba dòng giấy ấy làm bạn nhẹ lòng hơn thì tốt; nếu chúng chỉ làm bạn thêm sợ phạm, hãy quay về một câu của AN 8.41: sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Bài Ăn uống chánh niệm và bài Ngũ giới là gì có thêm gợi ý.

Hỏi nhanh

Ăn chay có ăn trứng được không?

Các bài kinh bài này dẫn không có câu nào cấm hay cho phép riêng trứng. Theo cách đọc của người viết, trứng có phôi (trứng ấp, vịt lộn) là sinh mạng đang hình thành nên cần cân nhắc, còn trứng chưa thụ tinh thì không có phôi sống. Ai thấy lấn cấn có thể kiêng.

Ăn chay có uống sữa được không?

Kinh không cấm sữa. Snp 2.7 kể thời xưa không giết bò vì bò “cho ăn, cho sức, cho dung sắc, cho lạc” (kệ 15). Theo cách đọc của người viết, sữa nằm trong chữ “cho ăn”, là thứ lấy được từ con vật còn sống; thước đo vẫn là tâm từ (AN 8.41).

Kinh có nói ăn chay phải kiêng món gì không?

Không có danh sách món. MN 55 cho thọ dụng thịt khi không thấy, không nghe, không nghi bị giết vì mình; Snp 2.2 dạy điều làm con người trong sạch không phải kiêng cá thịt mà là bỏ tham, sân, dối trá.

Ngày trai giới trong kinh có bắt ăn chay không?

Kinh nói về giờ ăn, không nói về món. AN 8.41 dạy dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, và không đặt điều kiện chay hay mặn.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 8.41, Kinh Các Trai Giới, bản HT. Thích Minh Châu, AN 8.41 trên SuttaCentral.
  2. Trung Bộ 55, Kinh Jīvaka, bản HT. Thích Minh Châu, MN 55 trên SuttaCentral.
  3. Kinh Tập 2.7, Kinh Pháp Của Bà-la-môn, bản HT. Thích Minh Châu, Snp 2.7 trên Hoan Hỉ.
  4. Kinh Tập 2.2, Kinh Mùi Hôi Thối, bản HT. Thích Minh Châu, Snp 2.2 trên Hoan Hỉ.
  5. Tăng Chi Bộ 5.177, Kinh Người Buôn Bán, bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.177 trên SuttaCentral.
  6. Các câu trong ngoặc kép và khung trích là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu. Phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận, chỗ ghi “phong tục” không phải lời kinh. Kinh tạng bài này dẫn không bàn riêng về trứng và sữa; phần phân biệt trứng có phôi và trứng chưa thụ tinh là cách đọc của người viết.

Đọc nguyên văn bài kinh

Đọc thêm