Phá thai theo lời Phật: nhìn thẳng vào nghiệp, và con đường đi tiếp
Đây là một trong những câu hỏi được tìm nhiều và được hỏi trong nước mắt nhiều nhất. Có người mang nỗi day dứt nhiều năm; có người bị dọa “vong thai nhi đòi nợ” rồi bị dẫn đến những lễ giải nghiệp tốn kém. Bài này đi theo đúng lời kinh, không nói nhẹ đi điều kinh nói, cũng không thêm vào điều kinh không nói.
Luật tạng nói gì: sự sống bắt đầu từ đâu
Giới thứ ba trong bốn giới bất cộng trụ (pārājika) của tỷ-kheo là cố ý giết người. Khi định nghĩa “người”, Luật tạng ghi: “từ khi tâm đầu tiên khởi lên, thức đầu tiên hiện ra trong bụng mẹ, cho đến lúc chết, ở khoảng giữa ấy gọi là thân người” (Pārājika 3, Pj 3:3.8; Pāli: yaṁ mātukucchismiṁ paṭhamaṁ cittaṁ uppannaṁ paṭhamaṁ viññāṇaṁ pātubhūtaṁ, yāva maraṇakālā etthantare eso manussaviggaho nāma). Nói cách khác, theo Luật Nam truyền, thai nhi ngay từ lúc thọ thai đã là một sự sống con người.
Luật tạng còn ghi một vụ việc: một người phụ nữ nhờ vị tỷ-kheo quen biết giúp mình phá thai; vị ấy giúp, thai nhi chết, và Đức Phật phán vị ấy phạm tội bất cộng trụ, tức tội nặng nhất, mất tư cách tỷ-kheo (Pārājika 3, các trường hợp 5.17 trở đi). Với người tại gia, việc này thuộc giới thứ nhất trong năm giới: không sát sanh.
Kinh không nói nhẹ đi điều này. Nhưng kinh cũng nhấn mạnh: “Tác ý là nghiệp” (AN 6.63:33.3; Pāli: cetanāhaṁ, bhikkhave, kammaṁ vadāmi). Mức nặng nhẹ của nghiệp gắn với tâm lúc làm: biết hay không biết, bị ép buộc hay tự quyết, tâm sân hận hay hoảng loạn. Có những hoàn cảnh y khoa phức tạp mà kinh không bàn riêng; với những trường hợp ấy, nên hỏi một vị thầy có giới đức và bác sĩ, không nên vội kết luận thay ai.
Nghiệp không phải bản án cố định
Trong Kinh Nắm Muối (AN 3.100), Đức Phật bác bỏ quan niệm “làm nghiệp thế nào thì nhận quả y như thế ấy”. Nếu như vậy, Ngài nói, đời sống phạm hạnh là vô ích. Ngài ví: một nắm muối bỏ vào chén nước nhỏ thì nước mặn không uống được; cùng nắm muối ấy bỏ xuống sông Hằng thì nước vẫn uống được (AN 3.100:4.7; Pāli: seyyathāpi, bhikkhave, puriso loṇakapallakaṁ gaṅgāya nadiyā pakkhipeyya). Cùng một nghiệp ác nhỏ, người không tu tập thân, giới, tâm, tuệ có thể bị quả nặng; người đã tu tập, tâm rộng lớn, an trú vô lượng tâm thì quả ấy có thể chỉ trổ nhẹ trong đời này (AN 3.100). Bài Nghiệp có chuyển được không giải thích kỹ hơn.
Câu chuyện Aṅgulimāla là bằng chứng mạnh nhất: một kẻ giết rất nhiều người vẫn quay đầu, tu tập và chứng quả A-la-hán (MN 86). Pháp Cú ghi lại lời của chính vị ấy: “Ai lấy việc thiện lấp đi việc ác đã làm, người ấy chiếu sáng thế gian như vầng trăng thoát khỏi mây che” (Dhp 173; MN 86:18.7–8; Pāli: yassa pāpaṁ kataṁ kammaṁ, kusalena pidhīyati). Nhưng kinh cũng không nói quả biến mất: sau khi thành A-la-hán, Ngài Aṅgulimāla vẫn bị ném đá, đầu chảy máu, và Đức Phật dạy: “Hãy nhẫn chịu. Thầy đang nhận ngay trong đời này quả của nghiệp mà lẽ ra thầy phải chịu trong địa ngục nhiều năm” (MN 86:17.7; Pāli: yassa kho tvaṁ, brāhmaṇa, kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni niraye pacceyyāsi tassa tvaṁ, brāhmaṇa, kammassa vipākaṁ diṭṭheva dhamme paṭisaṁvedesī).
Có “vong thai nhi đòi nợ” không? Có cần lễ giải nghiệp?
Kinh tạng Pāli không có giáo lý về “vong thai nhi” theo đi đòi nợ cha mẹ. Theo Vi Diệu Pháp Nam truyền, ngay sau khi chết là tái sinh, không có thân chờ đợi; chúng sinh ấy đã sang đời mới theo nghiệp của chính mình, không bị trói vào cha mẹ để đòi nợ (xem Cúng 49 ngày, cúng thất). Kinh cũng không có lễ nào trả tiền để xóa nghiệp. Trong Kinh Hòn Đá Dưới Hồ (SN 42.6), Đức Phật ví: ném hòn đá xuống hồ rồi đứng quanh cầu khấn “đá ơi nổi lên”, đá vẫn chìm (SN 42.6:5.1–3; Pāli của lời cầu khấn: ummujja, bho puthusile, uplava, bho puthusile, thalamuplava, bho puthusile). Việc ác không vì lời cầu khấn mà thành nhẹ; việc thiện không vì lời cầu khấn mà thành nặng.
Nếu ai đó nói bạn phải đóng một khoản tiền lớn để “giải nghiệp thai nhi”, đó không phải lời Phật dạy. Bài Thỉnh vong, căn đồng và Cầu an, cầu siêu theo Nam truyền có thể giúp bạn phân biệt.
Vậy nên làm gì
Điều kinh dạy cho người đã làm điều ác là bốn việc, không cần nghi lễ đặc biệt:
Thành thật nhìn lại. Đức Phật dạy La-hầu-la soi xét việc mình như soi gương: thấy sai thì thừa nhận, bày tỏ với bậc thầy hay bạn đạo, và phát nguyện không tái phạm (MN 61). Đó là ý nghĩa của sám hối trong Nam truyền: không phải để được tha, mà để tâm không còn che giấu.
Giữ giới từ nay. Thọ lại năm giới, giữ giới không sát sanh thật kỹ. Giữ một giới là trao sự an toàn cho vô lượng chúng sinh (AN 8.39).
Làm phước và hồi hướng. Dâng cúng chư Tăng, bố thí, rồi hồi hướng cho đứa con chưa kịp chào đời, như Kinh Ngoài Bức Tường dạy cho người thân đã khuất (Khp 7). Hồi hướng không phải là “siêu độ” hay xóa nghiệp thay ai. Theo AN 10.177, phước hồi hướng đến được với người đã khuất khi họ sinh vào cảnh giới có thể nhận, và dù thế nào người làm phước cũng không mất phần quả của mình.
Rải tâm từ, kể cả cho chính mình. Tự hành hạ không phải là sám hối. Tâm từ (Snp 1.8) giúp tâm đủ vững để sống tốt hơn, và chính đời sống tốt hơn ấy là “nước sông Hằng” làm loãng nắm muối.
Một lời nhắn
Nếu bạn đang mang nỗi đau này, hãy biết rằng bạn không cô đơn, và con đường phía trước vẫn mở. Hãy tìm đến một vị thầy có giới đức để được nghe, và nếu nỗi buồn kéo dài, hãy gặp bác sĩ hay chuyên gia tâm lý; chăm sóc tâm và thân không trái với lời Phật dạy.
Hỏi nhanh
Phá thai có phạm giới không theo Phật giáo?
Có. Luật tạng Pāli định nghĩa sự sống con người bắt đầu từ khi tâm đầu tiên khởi lên trong bụng mẹ (Pārājika 3), nên phá thai thuộc giới thứ nhất, giới không sát sanh. Mức nặng nhẹ của nghiệp tùy tác ý lúc làm (AN 6.63).
Phá thai rồi có sám hối được không?
Được. Sám hối trong Nam truyền là thành thật nhìn lại, bày tỏ, và phát nguyện không tái phạm (MN 61). Nghiệp không phải bản án cố định: đời sống tu tập về sau làm quả nhẹ đi như nắm muối bỏ xuống sông (AN 3.100), và “ai lấy thiện lấp ác, người ấy chiếu sáng đời” (Dhp 173).
Có cần cầu siêu hay giải nghiệp cho thai nhi không?
Kinh Pāli không dạy có vong thai nhi đòi nợ. Kinh không có lễ nào trả tiền để xóa nghiệp. SN 42.6 cho thấy cầu khấn không làm đá nổi lên (đoạn 5.1–3). Điều nên làm là làm phước, dâng cúng chư Tăng và hồi hướng cho đứa bé (Khp 7; AN 10.177), giữ giới và rải tâm từ. Hồi hướng là chia phước, không phải nghi lễ xóa nghiệp.
Người đã phá thai nên làm gì để lòng nhẹ hơn?
Thành thật nhìn lại, thọ và giữ năm giới, làm phước hồi hướng, rải tâm từ cho đứa bé và cho chính mình. Nếu nỗi buồn kéo dài, hãy tìm một vị thầy có giới đức và một chuyên gia tâm lý.
Biên soạn: Hoan Hỉ
Nguồn trích dẫn
- Luật tạng, Phân Tích Giới Tỷ-kheo, Bất cộng trụ thứ ba (Pārājika 3), Pj 3 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 3.100, Kinh Nắm Muối (Loṇakapalla Sutta), AN 3.100 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 6.63, Kinh Thể Nhập (Nibbedhika Sutta), AN 6.63 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 86, Kinh Aṅgulimāla, MN 86 trên SuttaCentral.
- Pháp Cú, kệ 173, Dhp 173 trên SuttaCentral.
- Tương Ưng Bộ 42.6, Kinh Con Trai Asibandhaka (Asibandhakaputta Sutta), SN 42.6 trên SuttaCentral.
- Trung Bộ 61, Kinh Giáo Giới La-hầu-la ở rừng Ambala, MN 61 trên SuttaCentral.
- Tăng Chi Bộ 10.177, Kinh Jāṇussoṇi, AN 10.177 trên SuttaCentral.
- Các đoạn trích do Hoan Hỉ dịch từ bản Pāli, đối chiếu bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato.