Giới và đời sống cư sĩ

Mùng 1, ngày rằm Phật tử nên làm gì? Ngày Bố-tát theo kinh và phần phong tục

Mùng 1 và ngày rằm, người Việt quen đi chùa, cúng, ăn chay. Bài này mở kinh Nikāya ra xem kinh nói gì về những ngày ấy: ngày Bố-tát là ngày nào, người tại gia được hỏi làm những việc gì, và phần nào là phong tục. Bài không lặp lại cách giữ bát quan trai đã có bài riêng.

Tóm lại: Kinh Nikāya nêu ngày Bố-tát (uposatha) vào ngày mười bốn, mười lăm và ngày thứ tám của nửa tháng (Snp 2.14, AN 3.37); trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy ngày mùng 1 được nêu tên. Việc người tại gia được hỏi trong ngày ấy gồm tám mục, mở đầu bằng hiếu với mẹ và cha, kính người tu hành, kính người lớn, giữ Bố-tát, giữ tâm tỉnh thức và làm việc thiện (AN 3.37). Ăn chay, mâm quả, vàng mã và các điều kiêng cữ là phong tục; trong các kinh bài này dẫn, đó không phải điều kinh bắt buộc.

Kinh có danh sách việc cho mùng 1 và ngày rằm không?

Nhiều bạn hỏi “mùng 1, ngày rằm nên làm gì” và mong một danh sách: cúng gì, kiêng gì, ăn gì. Khi mở kinh Nikāya, tức các bộ kinh Pāli mà Phật giáo Nam truyền giữ, bạn không gặp danh sách theo kiểu lịch âm của người Việt. Điều bạn gặp là một chữ gốc: uposatha, đọc theo âm Hán Việt là Bố-tát, nghĩa là ngày trai giới, ngày người tu và người tại gia dành riêng để giữ giới và sống thanh tịnh hơn ngày thường.

Vậy mùng 1 và rằm rơi vào đâu trong kinh? Kinh Dhammika, bài kinh dạy bổn phận của người tại gia, nêu rõ ba ngày của mỗi nửa tháng:

Ngày mười bốn, mười lăm,
Hay ngày tám mỗi tháng,

Kinh Tập 2.14 (Kinh Dhammika) (Snp 2.14:28.2; Pāli: Cātuddasiṁ pañcadasiñca aṭṭhamiṁ;)

Tăng Chi Bộ 3.37 cũng gọi đúng tên ngày thứ hai trong ba ngày ấy, ngày rằm:

“Này các Tỷ-kheo, trong ngày rằm lễ Uposatha, bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành trong thế giới này” (AN 3.37:1.5; Pāli: Tadahu, bhikkhave, uposathe pannarase cattāro mahārājāno sāmaññeva imaṁ lokaṁ anuvicaranti:). Bài kinh dùng hình ảnh bốn vị Thiên vương đi xem thế gian làm khung kể; theo cách đọc của người viết, phần đáng lấy là câu hỏi họ đặt ra cho người tại gia, và chúng ta sẽ xem câu hỏi ấy ở đoạn sau.

Cần nói thẳng về ngày mùng 1. Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy ngày mùng 1 âm lịch được nêu tên. Kinh nêu ngày mười lăm, ngày mười bốn và ngày thứ tám của nửa tháng, tính theo trăng. Các chùa Nam truyền ngày nay thường giữ ngày trăng tròn, ngày trăng mới và hai ngày bán nguyệt; đó là truyền thống của các chùa. Theo cách đọc của người viết, vì ngày đầu tháng âm lịch thường gần kỳ trăng mới, nên nếp “mùng một và rằm” của người Việt khớp khá gần với nếp ấy. Nếu bạn muốn đi chùa Nam tông vào những ngày này, cách chắc chắn nhất là hỏi chùa về lịch Bố-tát của chính chùa.

Điều chư thiên “đi xem” trong ngày Bố-tát: tám việc của người tại gia

Câu hỏi trong Tăng Chi Bộ 3.37 là một danh sách tám mục, lặp lại cho cả ba ngày (ngày thứ tám, ngày mười bốn, ngày rằm). Đây là chỗ hiếm hoi kinh liệt kê, trong một câu, những việc được hỏi đến ở người tại gia vào ngày Bố-tát:

có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha (Bố-tát), có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.

Tăng Chi Bộ 3.37 (Bốn Bậc Đại Vương) (AN 3.37:1.2; Pāli: ‘kacci bahū manussā manussesu matteyyā petteyyā sāmaññā brahmaññā kule jeṭṭhāpacāyino uposathaṁ upavasanti paṭijāgaronti puññāni karontī’ti.)

Hãy đọc chậm danh sách ấy. Nó không bắt đầu bằng ăn chay, cúng mâm quả hay đốt nhang. Nó bắt đầu bằng cha mẹ. Tám việc, theo thứ tự trong kinh, là:

  1. Hiếu với mẹ (matteyyā).
  2. Hiếu với cha (petteyyā).
  3. Kính các bậc Sa-môn (sāmaññā), người sống đời tu hành.
  4. Kính các bậc Bà-la-môn (brahmaññā), theo cách hiểu thông thường là những người sống đời tâm linh chân chính.
  5. Tôn trọng người lớn trong gia đình (kule jeṭṭhāpacāyino, nghĩa đen là kính bậc trưởng thượng trong dòng họ).
  6. Giữ ngày Bố-tát (uposathaṁ upavasanti).
  7. Giữ tâm tỉnh thức (paṭijāgaronti, bản Minh Châu dịch là “đề cao cảnh giác”).
  8. Làm các việc thiện, các công đức (puññāni karonti).

Phần giải nghĩa từng chữ Pāli ở trên là cách hiểu thông thường; phần diễn giải thành việc cụ thể dưới đây là cách đọc của người viết.

Từ tám việc ấy, một ngày rằm của người đi làm

Gọi hoặc về thăm cha mẹ. Mục đầu tiên của kinh là cha mẹ, nên người viết đặt nó lên đầu. Nếu cha mẹ ở xa, một cuộc gọi dài hơn mọi ngày cũng là hiếu. Nếu ở gần, bạn nấu một bữa cơm cho cha mẹ. Bài Báo hiếu cha mẹ theo lời Phật nói kỹ các việc cụ thể.

Đến chùa, gặp người tu và cúng dường nếu có điều kiện. Đây là mục “kính Sa-môn”. Kinh Dhammika, ngay sau phần nói về ngày Bố-tát, nói người trí cúng dường chư Tăng vào buổi sáng hôm sau ngày giữ giới:

Do vậy, vào buổi sáng,
Thực hành ngày trai giới,
Bậc có trí sáng suốt,
Với tâm tư tín thành,
Với tâm ý tùy hỷ,
Cúng dường Tỷ-kheo Tăng,
Với món ăn đồ uống,
Hợp với khả năng mình.

Kinh Tập 2.14 (Kinh Dhammika) (Snp 2.14:29.1–29.4; Pāli: Tato ca pāto upavutthuposatho, Annena pānena ca bhikkhusaṅghaṁ; Pasannacitto anumodamāno, Yathārahaṁ saṁvibhajetha viññū.)

Hai chữ cuối đáng ghi nhớ: “hợp với khả năng mình”. Trong bốn câu kệ ấy không thấy đòi cúng nhiều; kệ nói cúng vừa sức và với tâm hoan hỷ. Bài Cúng dường chư Tăng nói về bốn vật dụng và cách dâng.

Giữ năm giới trọn một ngày, hoặc giữ tám giới nếu bạn đã quen. Đây là mục “giữ Bố-tát”. Với người mới, bắt đầu bằng năm giới giữ thật kỹ trong ngày rằm là đã tốt: bài Năm giới là gì giải thích từng giới. Muốn thử tám giới trong một ngày một đêm, bạn đọc bài Giữ bát quan trai giới; bài ấy kể kỹ tám chi phần, ba kiểu giữ trai giới trong Tăng Chi Bộ 3.70 và cách giữ cụ thể. Bài này không lặp lại phần đó.

Dành một khoảng nghe pháp hoặc đọc kinh. Mục “giữ tâm tỉnh thức” có thể bắt đầu từ việc nhỏ này. Tăng Chi Bộ 5.202 gói lợi ích của việc nghe pháp trong một câu:

“Được nghe điều chưa nghe, làm cho trong sạch điều được nghe, đoạn trừ nghi, làm cho tri kiến chánh trực, làm cho tâm tịnh tín.” (AN 5.202:1.3; Pāli: Assutaṁ suṇāti, sutaṁ pariyodāpeti, kaṅkhaṁ vitarati, diṭṭhiṁ ujuṁ karoti, cittamassa pasīdati.). Bạn có thể nghe một thời pháp ở chùa, hoặc tự đọc một bài kinh ngắn. Bài Tụng kinh mỗi ngày có sẵn một thời khóa ngắn.

Làm một việc cho đi. Mục “làm các việc thiện” gần với bố thí nhất. Tăng Chi Bộ 6.10 dạy vị Thánh đệ tử sống trong gia đình nhớ lại sự cho đi của chính mình, như một cách làm tâm hân hoan:

Thánh đệ tử tự mình niệm Thí của mình: “Thật là được lợi cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta, vì rằng với quần chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình, với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí”

Tăng Chi Bộ 6.10 (Kinh Ma-ha-nam) (AN 6.10:6.1–6.3; Pāli: Puna caparaṁ, mahānāma, ariyasāvako attano cāgaṁ anussarati: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me. Yohaṁ maccheramalapariyuṭṭhitāya pajāya vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasāmi muttacāgo payatapāṇi vosaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato’ti.)

Câu này không bắt bạn cho thật nhiều. Nó nói việc cho đi với tâm sạch, không keo kiệt, là thứ đáng nhớ lại với niềm vui. Một ly nước cho người khát, một bữa cơm cho người đói, một khoản nhỏ cho quỹ từ thiện, đều đủ.

Phần nào là kinh, phần nào là phong tục

Đến đây có thể thấy rõ hơn ranh giới. Kinh nêu ngày Bố-tát và những việc kể trên. Còn rất nhiều điều quen thuộc vào ngày mùng 1 và rằm là nếp của gia đình, của vùng miền và của thói quen Việt Nam. Người viết xếp lại như sau để bạn tự cân nhắc:

  • Ăn chay mùng 1 và rằm. Tám chi phần của ngày Bố-tát có một chi phần về ăn uống, nhưng chi phần ấy nói về giờ ăn và số bữa, không nói chuyện kiêng thịt (xem câu trích ở phần hỏi nhanh bên dưới). Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh bắt người tại gia ăn chay vào mùng 1 hay rằm. Ăn chay vào hai ngày ấy là nếp quen của người Việt, đáng quý nếu bạn làm với lòng thương loài vật, nhưng đó là lựa chọn của bạn. Bài Phật tử có bắt buộc ăn chay không nói riêng về chuyện này.
  • Mâm quả, nhang đèn, vàng mã, cúng cô hồn. Đây là phong tục thờ cúng. Theo Kinh Ngoài Bức Tường (Khp 7), điều kinh nêu khi nhớ đến người đã mất là dâng cúng việc thiện rồi hồi hướng. Bài Đốt vàng mã theo lời Phật và bài Rằm tháng 7, Vu Lan và cúng cô hồn bàn riêng.
  • Kiêng cắt tóc, cắt móng tay, mượn tiền, đi xa vào mùng 1 hoặc rằm. Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy những điều kiêng ấy. Bài Xem ngày, coi đất, phong thủy cho thấy kinh nhìn chuyện xem ngày giờ ra sao.
  • Xin xăm, cầu tài, cầu lộc ở chùa. Bài Cầu tài lộc khi đi chùa và bài Cầu nguyện có linh không nói về điều này.

Không có nghĩa là phong tục sai. Phong tục giữ cho gia đình có nhịp sống chung, có dịp họp mặt, và nhiều khi là cầu nối đưa người ta đến với chùa. Điều kinh nhắc là đừng nhầm phong tục với lời Phật, và đừng để phong tục thay chỗ cho những việc kinh nêu. Kinh Kālāma nói đúng điều này:

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.

Tăng Chi Bộ 3.65 (Kinh Kālāma) (AN 3.65:4.1; Pāli: Etha tumhe, kālāmā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.)

Câu hỏi thử cho từng việc quen thuộc của ngày rằm có thể là: việc này làm lòng mình nhẹ hơn không, giữ giới của mình tốt hơn không, thương người nhiều hơn không? Nếu có, hãy giữ. Nếu việc ấy chỉ làm bạn thêm lo, hoặc thêm tốn kém mà lòng không an, hãy xét lại.

Một ngày rằm cụ thể

Ví dụ minh họa, nhân vật hư cấu, không phải chuyện có thật và không phải lời kinh. Anh Tuấn làm kế toán, nhà cách quê ba trăm cây số. Trước đây ngày rằm anh làm theo thói quen: dậy sớm sửa mâm cúng, ăn chay, rồi vào ca làm việc, đầu óc vẫn quay cuồng. Sau khi đọc Tăng Chi Bộ 3.37 anh đổi thứ tự. Sáng rằm anh gọi cho mẹ, hỏi thăm chân bà đã đỡ đau chưa, nói chuyện hai mươi phút. Trưa anh bỏ vào hộp từ thiện của công ty một khoản nhỏ. Tối anh tắt điện thoại sớm, đọc mười phút một đoạn kinh, rồi ngồi yên năm phút. Mâm cúng anh vẫn làm, nhưng gọn hơn. Cuối tháng anh nhận ra điều thay đổi lớn nhất không nằm ở mâm cúng, mà ở chỗ cuộc gọi cho mẹ khiến cả ngày của anh nhẹ đi.

Nếu bận quá, giữ bản rút gọn

Không phải ngày rằm nào bạn cũng sắp xếp được cả ngày. Bản rút gọn của người viết gồm ba việc, mỗi việc ứng với một mục trong danh sách của kinh: một cuộc hỏi thăm cha mẹ hoặc người lớn trong nhà (hiếu và kính người lớn), một việc cho đi dù rất nhỏ (việc thiện), và năm phút ngồi yên hay đọc một đoạn kinh trước khi ngủ (tỉnh thức). Ba việc ấy mất chưa đến nửa giờ nhưng vẫn giữ đúng tinh thần của câu hỏi trong kinh. Bài Tụng kinh mỗi ngày và bài Ngồi thiền bao lâu mỗi ngày là đủ giúp bạn chọn mức ngồi yên vừa sức.

Một gợi ý nhỏ

Rằm tới, bạn thử lấy một tờ giấy, chép tám mục của Tăng Chi Bộ 3.37, rồi đánh dấu mục nào bạn đã làm trong ngày. Nếu đến tối còn mục trống, chọn một mục dễ nhất để làm nốt trước khi ngủ. Làm được ba mục là một ngày rằm tốt; làm được cả tám mục là một ngày Bố-tát trọn vẹn.

Hỏi nhanh

Mùng 1 và ngày rằm Phật tử nên làm gì?

Theo Tăng Chi Bộ 3.37, câu hỏi dành cho người tại gia vào ngày Bố-tát gồm: “có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha (Bố-tát), có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.” (AN 3.37:1.2; Pāli: ‘kacci bahū manussā manussesu matteyyā petteyyā sāmaññā brahmaññā kule jeṭṭhāpacāyino uposathaṁ upavasanti paṭijāgaronti puññāni karontī’ti.) Theo cách đọc của người viết, đó là hiếu với cha mẹ, kính người tu hành và người lớn, giữ giới, giữ tâm tỉnh thức và làm việc thiện.

Ngày rằm có bắt buộc ăn chay không?

Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh bắt người tại gia ăn chay vào mùng 1 hay rằm. Chi phần về ăn uống trong ngày giữ tám giới nói về giờ ăn và số bữa: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời.” (AN 8.41:7.1; Pāli: ‘Yāvajīvaṁ arahanto ekabhattikā rattūparatā viratā vikālabhojanā.) Ăn chay mùng 1 và rằm là nếp quen của người Việt, tùy lựa chọn của bạn.

Mùng 1 và rằm có phải ngày phải kiêng cữ không?

Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh nêu điều kiêng cắt tóc, mượn tiền hay đi xa vào hai ngày này. Trong các kinh bài này dẫn, ngày Bố-tát hiện ra như ngày làm điều lành và giữ giới, không phải ngày kiêng cữ. Những điều kiêng ấy là phong tục.

Không đi chùa được vào ngày rằm thì sao?

Trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy kinh đòi người tại gia nhất định phải giữ ngày Bố-tát tại chùa. Trong Tăng Chi Bộ 8.41, người giữ giới tự suy xét từng chi phần. Tám việc trong Tăng Chi Bộ 3.37 hầu hết làm được ở nhà: hiếu với cha mẹ, giữ giới, nghe pháp, làm việc thiện.

Biên soạn: Hoan Hỉ

Nguồn trích dẫn

  1. Tăng Chi Bộ 3.37, bản HT. Thích Minh Châu, AN 3.37 trên SuttaCentral; Pāli: AN 3.37. Bản Minh Châu của bài này không có phần bài kệ về ba ngày Bố-tát nên bài không trích phần ấy.
  2. Kinh Tập 2.14 (Kinh Dhammika), bản HT. Thích Minh Châu (budsas.org, theo trang Kinh Dhammika của Hoan Hỉ); Pāli: Snp 2.14.
  3. Tăng Chi Bộ 5.202, bản HT. Thích Minh Châu, AN 5.202 trên SuttaCentral. Tăng Chi Bộ 6.10, AN 6.10 trên SuttaCentral. Tăng Chi Bộ 8.41, AN 8.41 trên SuttaCentral. Khuddakapāṭha 7 (Kinh Ngoài Bức Tường) chỉ được nhắc ở mục phong tục, không trích nguyên văn. Tăng Chi Bộ 3.65, AN 3.65 trên SuttaCentral.
  4. Các câu trong khung trích và trong ngoặc kép là nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu; câu Pāli chép theo SuttaCentral, bản Mahāsaṅgīti. Phần giải nghĩa chữ Pāli theo cách hiểu thông thường và phần diễn giải ngoài ngoặc kép là của người viết; chỗ ghi “cách đọc của người viết” là suy luận. Câu “trong các kinh bài này dẫn, người viết không thấy…” chỉ nói về những kinh được trích trong bài, không khẳng định cho cả Tam tạng. Cách các chùa Nam truyền giữ ngày trăng tròn, trăng mới và hai ngày bán nguyệt là theo truyền thống, không phải lời kinh.

Đọc nguyên văn bài kinh

Đọc thêm